|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 387/2024/HC-PT Ngày: 13-5-2024 V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Bà nguyễn Thị Thúy Hòa
Bà Nguyễn Thị Cúc
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án đã thụ lý số: 70/2024/TLPT-HC ngày 24/01/2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2023/HC-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1297/2024/QĐXXPT-HC ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971;
Địa chỉ: số H, trước đây là ấp H (nay là ấp B), xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Võ Thị Minh T, sinh năm 1982;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Trương Thị X - Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch UBND huyện G, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn N – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G (có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2. UBND huyện G, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn N – Chủ tịch UBND huyện G (có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Hữu B – Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Số H, trước đây là ấp H (nay là ấp B), xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà V: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971;
Địa chỉ: số H, trước đây là ấp H (nay là ấp B), xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (có mặt).
- Người có kháng cáo: Người khởi kiện ông Nguyễn Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Người khởi kiện ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ngày 4/12/2007, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G ban hành Quyết định số: 5424/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ số: H00949 do UBND huyện G cấp ngày 27/4/2006 gồm thửa 175, tờ bản đồ số 17, diện tích 8.945,9m2 cho ông Nguyễn Văn C. Nhưng không giao quyết định này cho ông C, ông C làm đơn khiếu nại Quyết định số 5424/QĐ-UBND (sau đây Uỷ ban nhân dân viết tắt là UBND và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất viết tắt là GCNQSDĐ).
Ngày 02/01/2009, UBND huyện G ban hành Quyết định số 06/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của Nguyễn Văn C. Có nội dung: “Công nhận nội dung khiếu nại của Nguyễn Văn C Công nhận phần đất có diện tích 2379,4 m2 thuộc một phần của thửa 175, tờ bản đồ số 17, xã C cho ông đã chuyển nhượng từ năm 1996, quản lý sử dụng cho đến nay. Công nhận phần đất có diện tích 1.180,8 m2 thuộc một phần của thửa 175, tờ bản đồ số 17, xã C cho ông Nguyễn Văn C đã chuyển nhượng từ năm 2002. Đến năm 2005 ông quản lý sử dụng cho đến nay. Điều chỉnh lại GCNQSDĐ của hộ cụ Nguyễn Văn H từ diện tích 8.945,9 m2, còn lại diện tích 5385,7 m2”.
Ngày 18/4/2009, UBND huyện G ban hành Quyết định số: 1238/QĐ-UBND ông C không được nhận quyết định này nên ông C khiếu nại.
Ngày 06/8/2009, UBND huyện G ban hành Quyết định số: 2444/QĐ-UBND thu hồi quyết định số: 06/QĐ-UBND ngày 02/01/2009 của UBND huyện G và Quyết định số: 1238/QĐ-UB ngày 18/4/2009 của UBND huyện G nêu trên.
Ngày 31/12/2009, UBND huyện G ban hành Quyết định số: 4517/QĐ-UB về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn C, có nội dung: Công nhận một phần nội dung khiếu nại của Nguyễn Văn C và thu hồi GCNQSDĐ số H02730 cấp ngày 28/7/2008 do UBND huyện G cấp cho cụ Nguyễn Văn H, giữ y Quyết định số: 5424/QĐ-UBND ngày 4/12/2007. Thu hồi lại GCNQSDĐ mang tên Huỳnh Thị C1. Giao cho các cơ quan chức năng tổ chức thực hiện. Ông tiếp tục khiếu nại Quyết định số 4517/QĐ-UB này.
Ngày 16/3/2010, UBND huyện G ban hành Quyết định số: 518/QĐ-UB có nội dung: Thu hồi Quyết định số: 4517/QĐ-UB ngày 31/12/2009.
Cùng ngày 16/3/2010, UBND huyện G ban hành Quyết định số: 519/QĐ-UB về việc giải quyết khiếu nại của Nguyễn Văn C, có nội dung: Công nhận một phần nội dung khiếu nại của Nguyễn Văn C. UBND huyện sẽ thu hồi GCNQSDĐ của cụ Nguyễn Văn H, giữ y Quyết định số 5424/QĐ-UB ngày 04/12/2007. Ông tiếp tục khiếu nại Quyết định số 519/QĐ-UB.
Cùng ngày 16/3/2010, UBND huyện G ban hành Quyết định số 520/QĐ-UB về việc thu hồi GCNQSDĐ của cụ Nguyễn Văn H. Phục hồi GCNQSDĐ số 1503 cấp ngày 23/4/2004 mang tên hộ bà Huỳnh Thị C1.
Ngày 01/11/2022, UBND huyện G đã ban hành Quyết định số: 1865/QĐ-UB về việc hủy GCNQSDĐ của Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022, khi cần vốn để phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng ông có đi vay vốn Ngân hàng và đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G để đăng ký bảo đảm thì bị Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G giữ GCNQSDĐ để thực hiện Quyết định số 5424/QĐ-UB ngày 04 tháng 12 năm 2007 của Chủ tịch UBND huyện G. Vợ chồng bà không có ký tên vào Biên bản giao lại GCNQSDĐ mà Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G tự thu giữ. Ngày 01/10/2022, ông Nguyễn Văn C khởi kiện hành chính chỉ yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số: 5424/QĐ-UBND ngày 04/12/2007 của Chủ tịch UBND huyện G, tỉnh Bến Tre về việc thu hồi GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V và hủy và Quyết định số: 1865/QĐ-UB ngày 01/11/2022 của UBND huyện G về việc hủy GCNQSDĐ số H00949 ngày 27 tháng 4 năm 2006 do UBND huyện G cấp cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V.
- Người bị kiện UBND huyện G trình bày:
Năm 1993, đo đạc thủ công trên địa bàn xã C để cấp GCNQSDĐ, cụ Huỳnh Thị C1 kê khai đăng ký thửa số 441, 442, tờ bản đồ số 03, diện tích 12.900 m2 xã C được hội đồng xét cấp giấy, xã thống nhất trình UBND huyện và được UBND huyện cấp GCNQSDĐ số G850461 ngày 03 tháng 11 năm 1993 cho cụ Huỳnh Thị C1.
Đến năm 2001, đo đạc thành lập bản đồ địa chính chính quy trên địa bàn xã C thì thửa đất số 441, 442, tờ bản đồ số 03, diện tích 12.900 m2 có số thửa tọa độ là thửa đất số 175, 194, tờ bản đồ số 17, tổng diện tích 14.463,4 m2 xã C. Năm 2004, hộ cụ Huỳnh Thị C1 kê khai đăng ký cấp đổi thửa đất số 175, tờ bản đồ số 17, diện tích 8.945,9 m2 (thửa cũ là thửa đất số 1442, 441, tờ bản đồ số 03) và được UBND huyện cấp GCNQSDĐ số V150270 ngày 23 tháng 4 năm 2004 cho hộ cụ Huỳnh Thị C1.
Ngày 31 tháng 8 năm 2005, cụ Huỳnh Thị C1 chết, trước khi chết cụ Huỳnh Thị C1 không để lại di chúc đối với thửa đất số 175, tờ bản đồ số 17, diện tích 8.945,9 m2, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Đến ngày 08 tháng 3 năm 2006, cụ Nguyễn Văn H (chồng của cụ Huỳnh Thị C1) đã lập “Tờ họp mặt gia đình” có tất cả 08 thành viên trong gia đình gồm: Cụ Nguyễn Văn H và các con: bà Nguyễn Thị B1, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Mười H1, bà Nguyễn Thị Mười M, bà Nguyễn Thị Bé M1 và bà Nguyễn Thị Mười B2, với nội dung là giao quyền sử dụng đất tổng diện tích 8.945,9 m2, thuộc thửa đất số 175, tờ bản đồ số 17, xã C cho ông Nguyễn Văn C, văn bản này được UBND xã C xác nhận.
Ngày 24 tháng 4 năm 2006, Phòng T có Tờ trình số 378/TTr-PTNMT về việc cấp lại GCNQSDĐ với nội dung:
- - Hủy GCNQSDĐ đã cấp cho hộ bà Huỳnh Thị C1, thường trú tại ấp H, xã C với diện tích 8.945,9 m2 thuộc thửa đất số 175, tờ bản đồ số 17, xã C, số GCNQSDĐ bị hủy bỏ số 1503 ngày 23 tháng 4 năm 2004.
- - Cấp lại GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V, cùng thường trú tại ấp H, xã C với diện tích 8.945,9 m2 thuộc thửa đất số 175, tờ bản đồ số 17, xã C.
Ngày 27 tháng 4 năm 2006, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 175, tờ bản đồ số 17, diện tích 8.945,9 m2 xã C, số phát hành AE 043804, số vào sổ H00949.
Ngày 07 tháng 9 năm 2007, cụ Nguyễn Văn H làm đơn khiếu nại ông Nguyễn Văn C (con ruột của cụ Nguyễn Văn H) đã viết giả mạo các giấy tờ để hợp thức hóa quyền sử dụng đất của cụ H.
Ngày 04 tháng 10 năm 2007, UBND xã C tổ chức hòa giải nhưng không thành, cụ Nguyễn Văn H yêu cầu ông Nguyễn Văn C giao trả quyền sử dụng đất cho cụ H.
Ngày 09 tháng 10 năm 2007, UBND xã C có Văn bản số: 76/ĐN-UB về việc đề nghị thu hồi GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V thường trú tại ấp H, xã C với lý do “Tờ họp mặt gia đình” ngày 08 tháng 3 năm 2006 của hộ cụ Nguyễn Văn H không đủ các thành viên trong gia đình.
Ngày 09 tháng 11 năm 2007, Phòng Tài nguyên và Môi trường kết hợp với UBND xã C mời cụ Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn C và các thành viên trong gia đình của cụ Nguyễn Văn H đến UBND xã làm việc. Đã xác định được cụ Nguyễn Văn H và cụ Huỳnh Thị C1 có tất cả 11 người con ruột, không có con nuôi nhưng “Tờ họp mặt gia đình” ngày 08 tháng 3 năm 2006 còn thiếu bốn thành viên gồm: ông Nguyễn Văn C2, bà Nguyễn Thị Bé B3, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị L, là chưa phù hợp.
Ngày 26 tháng 11 năm 2007, Thanh tra huyện G có Công văn số 03/CV-TT với nội dung đề nghị UBND huyện G thu hồi GCNQSDĐ số H00949, cấp ngày 27 tháng 4 năm 2006 của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V thường trú tại ấp H xã C.
Ngày 04 tháng 12 năm 2007, UBND huyện G ban hành Quyết định số 5424/QĐ-UB về việc thu hồi GCNQSDĐ của Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V.
Do quá trình tổ chức thực hiện Quyết định 5424 vợ chồng ông C không giao nộp GCNQSDĐ, nên ngày 01/11/2022 UBND huyện G đã ban hành Quyết định số: 1865/QĐ-UB về việc hủy GCNQSDĐ của Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V.
Các quyết định nêu trên của UBND là phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết V trình bày:
Bà V là vợ của ông Nguyễn Văn C, nên bà V thống nhất với phần trình bày ý kiến của ông C. Bà V trình bày thêm:
Ngày 04 tháng 12 năm 2007, UBND huyện G ban hành Quyết định số 5424/QĐ-UB về việc thu hồi GCNQSDĐ của Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V.
Ngày 01/11/2022, UBND huyện G đã ban hành Quyết định số 1865/QĐ-UB về việc hủy GCNQSDĐ của Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V.
Nhưng không giao cho vợ chồng bà nên vợ chồng bà không biết.
Ngày 20/9/2022, khi cần vốn để phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng bà có đi vay vốn Ngân hàng nên có đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G để đăng ký bảo đảm thì bị Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G giữ GCNQSDĐ để thực hiện Quyết định số 5424/QĐ-UB ngày 04 tháng 12 năm 2007 của Chủ tịch UBND huyện G. Vợ chồng bà không có ký tên vào Biên bản giao lại GCNQSDĐ mà Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G tự thu giữ. Ngày 01/10/2022, chồng bà ông Nguyễn Văn C khởi kiện hành chính ra Tòa án.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 36/2023/HC-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 5424/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V của Chủ tịch UBND huyện G, tỉnh Bến Tre và Quyết định 1865/QĐ-UB ngày 01/11/2002 của UBND huyện G về việc hủy GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C.
Ngoài ra, còn quyết định án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27/9/2024, ông Nguyễn Văn C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên Tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, có quan điểm:
Trong tờ họp mặt gia đình thiếu chữ ký của 04 người con của cụ H là do cán bộ UBND hướng dẫn sai. Tuy nhiên, hiện nay không ai khiếu nại và đã có 03 người có văn bản đồng ý nội dung thỏa thuận ngày 08/3/2006 nên việc Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C là không có căn cứ. Nên đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, tuyên hủy Quyết định số 5424/QĐ-UBND và Quyết định 1865/QĐ-UBND của UBND huyện G về việc thu hồi, hủy GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện UBND huyện G trình bày quan điểm:
Việc họp mặt gia đình không có văn bản thể hiện ý chí của bà C1 để thừa kế đất cho ông C mà chỉ có các anh em của ông C và ông H ký tên nhưng thiếu 04 anh em của ông C là chưa đủ căn cứ cấp quyền sử dụng đất. Do đó, UBND huyện G đã căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 21 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ ban hành các Quyết định số 5424/QĐ-UBND và Quyết định 1865/QĐ-UBND của UBND huyện G về việc thu hồi, hủy GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C là đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị:
Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 5424/QĐ-UB ngày 04/12/2007 của Chủ tịch UBND huyện G về việc thu hồi GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V và Quyết định số 1865/QĐ-UB ngày 01/11/2022 về việc hủy GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
* Về tố tụng:
[1]. Trong phần Quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số: 5424/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V”, tuyên như vậy là không cụ thể về thời gian ban hành, cơ quan ban hành là có thiếu sót.
[2]. Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Cha mẹ của ông C là cụ H và cụ C1 có tất cả 11 người con, gồm: ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Bé B3, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Bé B4, bà Nguyễn Thị Bé T2, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Bé M1, bà Nguyễn Thị Mười M, bà Nguyễn Thị Mười H1, bà Nguyễn Thị Mười B2. Năm 2005, cụ C1 chết không để lại di chúc. Ngày 08/3/2006, cụ H và các con: bà T2, ông C, bà M1, bà Mười M, bà Mười H1, bà Mười B2 đã lập “Tờ họp mặt gia đình” thống nhất giao cho ông C quản lý sử dụng phần diện tích 8.945,9 m2 là tài sản chung của vợ chồng cụ H và cụ C1, nhưng khi lập “Tờ họp mặt gia đình” này không có mặt và không có chữ ký của 04 đồng thừa kế là ông C2, bà Bé B3, ông Đ, bà L. Căn cứ vào “Tờ họp mặt gia đình” này, ngày 27 tháng 4 năm 2006 UBND huyện Giồng Trôm cấp GCNQSDĐ số H00949 cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V. Như vậy, bà B3, ông Đ, bà L, bà B4, bà T2, bà M1, bà Mười M, bà Mười H1 và bà Mười B2 đều là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, bản án sơ thẩm không đưa những người nêu trên vào tham gia tố tụng là có thiếu sót.
[3]. Tuy nhiên, các thiếu sót trên của Tòa án cấp sơ thẩm là không nghiêm trọng và không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và có thể khắc phục được nên chỉ cần nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
* Về nội dung:
[4]. Xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị kiện là Quyết định số: 5424/QĐ-UBND ngày 04/12/2007 về việc thu hồi GCNQSDĐ số H00949 cấp ngày 27 tháng 4 năm 2006 cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V (nếu không yêu cầu thì bỏ) và Quyết định số 1865/QĐ-UB ngày 01/11/2022 của UBND huyện G về việc hủy GCNQSDĐ số H00949 ngày 27 tháng 4 năm 2006 do UBND huyện G cấp cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V:
Xét về nguồn gốc diện tích 8.945,9 m2 thửa 175 tờ bản đồ số 17 tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre, vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ số H00949 ngày 27 tháng 4 năm 2006, có nguồn gốc là tài sản chung của cha mẹ ông C là cụ Nguyễn Thị C3 và cụ Nguyễn Văn H.
[5]. Như mục [1] nêu trên đã nhận định: Cụ H và cụ C3 có tất cả 11 người con, gồm: ông C, bà B2, ông Đ, bà L, bà B4, bà T2, ông C, bà M1, bà Mười M, bà Mười H1, bà Mười B2. Năm 2005, cụ C3 chết không để lại di chúc. Ngày 08/3/2006, cụ H và các con: bà T2, ông C, bà M1, bà Mười M, bà Mười H1, bà Mười B2 đã lập “Tờ họp mặt gia đình” thống nhất giao cho ông C quản lý sử dụng phần diện tích 8.945,9 m2 là tài sản chung của vợ chồng cụ H và cụ C3, nhưng khi lập “Tờ họp mặt gia đình” này không có mặt và không có chữ ký của 04 đồng thừa kế là ông C2, bà Bé B3, ông Đ, bà L. Căn cứ vào “Tờ họp mặt gia đình” này ngày 27 tháng 4 năm 2006 UBND huyện Giồng Trôm cấp GCNQSDĐ số H00949 cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V đối với diện tích đất nêu trên là trái pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết khiếu nại UBND huyện G đã phát hiện ra việc cấp GCNQSDĐ cho ông C và bà V là trái pháp luật nên đã ban hành Quyết định số 5424/QĐ-UBND ngày 04/12/2007 về việc thu hồi GCNQSDĐ số H00949 cấp ngày 27 tháng 4 năm 2006 cho ông C và bà V là có căn cứ, đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và đúng về nội dung. Tuy nhiên, sau khi ban hành Quyết định 5424/QĐ-UBND, UBND huyện G không lập Biên bản giao các quyết định này cho ông C và bà V; việc giải quyết khiếu kiện kéo dài, ban hành nhiều quyết định giải quyết khiếu nại sau đó thu hồi làm mất lòng tin của người dân đối với cơ quan hành chính Nhà nước, do vậy UBND và Chủ tịch UBND huyện G cần rút kinh nghiệm.
[6]. Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông C là có căn cứ. Ông C kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[8]. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm và hủy quyết định hành chính bị kiện là có không có căn cứ chấp nhận.
[9]. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn C phải chịu.
[10]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241; Điều 242 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn C.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 36/2023/HC-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
Căn cứ các Điều: 7, 8, 9, 18, 30, 31 của Luật khiếu nại; Khoản 1 Điều 76, khoản 1 và khoản 4 Điều 82 Luật Đất đai 2013; Luật Đất đai 2003; Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005; Khoản 2 Điều 21 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số: 5424/QĐ-UBND ngày 04/12/2007 của UBND huyện G về việc thu hồi GCNQSDĐ số H00949 cấp ngày 27 tháng 4 năm 2006 do UBND huyện G cấp cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V và Quyết định số: 1865/QĐ-UB ngày 01/11/2022 của UBND huyện G về việc hủy GCNQSDĐ số H00949 ngày 27 tháng 4 năm 2006 do UBND huyện G cấp cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Tuyết V.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0007634 ngày 05/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.
3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 387/2024/HC-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 387/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn C kiện UBND huyện G tỉnh Bến Tre v/v “Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai”.
