Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 387/2024/DS-PT

Ngày: 06/5/2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và

yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ

quan, tổ chức”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Hồng

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tú Oanh

Bà Đỗ Thị Kim Thương

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thế Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hoàng – Kiểm sát viên.

Vào ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 213/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 403/2023/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1480/QĐXXPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 4755/QĐ-PT, ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm: 1964;
  2. Địa chỉ: A ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm: 1964;
  4. Địa chỉ: B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Phùng Sam Y, sinh năm: 1972;
    2. Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1992;
    3. Ông Nguyễn Thế L, sinh năm: 1994;
    4. Bà Nguyễn Thị Kim Á, sinh năm: 1996;
    5. Cùng địa chỉ: B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    6. Ông Bùi Tấn T1, sinh năm: 1971;
    7. Địa chỉ: D C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    8. Bà Lâm Bích T2, sinh năm: 1977;
    9. Địa chỉ: A Lô A, Chung cư S, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

    10. Ủy ban nhân dân huyện B
    11. Địa chỉ: C T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện B: bà Nguyễn Thị Thu T3 – Phó phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B (Văn bản ủy quyền ngày 25/3/3016)

    12. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1955;
    13. Địa chỉ: A ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    14. Ông Nguyễn Thế H1, sinh năm: 1958;
    15. Địa chỉ: B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    16. Ông Nguyễn Chí T4, sinh năm: 1982;
    17. Địa chỉ: B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    18. Ông Nguyễn Văn T5;
    19. Bà Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh năm: 1982;
    20. Cùng địa chỉ: B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    21. Ông Nguyễn Thế A, sinh năm: 1961 (chết năm: 2020);
    22. Địa chỉ: B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người làm kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thế A:

      1. Bà Lê Thị Ngọc D1, sinh năm: 1963;
      2. Bà Nguyễn Kim H3, sinh năm: 1990;
      3. Bà Nguyễn Kim H4, sinh năm: 1994;
      4. Ông Nguyễn Thế V, sinh năm: 1997;
      5. Anh Nguyễn Thế H5, sinh năm: 2004;
      6. Cùng địa chỉ: B ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    23. Ông Nguyễn Thế Đ1, sinh năm: 1966;
    24. Địa chỉ: B tổ A ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phan Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn trình bày: Ông Phan Văn Đ (sau đây gọi là ông Đ) có phần đất diện tích 2300 m² thuộc một phần thửa 486, tờ bản đồ số 01 theo tài liệu 02/CT-UB, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn gốc đất là do gia đình ông Đ được Tập đoàn chia lại cho canh tác, quản lý sử dụng từ sau năm 1975. Sau khi được chia đất thì gia đình ông Đ đã canh tác, sử dụng ổn định nhưng ông Nguyễn Thế T (sau đây gọi là ông T) đã lấn chiếm phần đất của ông, ông Đ đã nhiều lần ngăn cản ông T sử dụng và yêu cầu ông T trả phần đất đó lại cho ông, nhưng ông T không đồng ý mà còn tự ý đi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02585 ngày 22/03/2013 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp. Ngày 23/10/2014 và ngày 14/11/2014, Ủy ban nhân dân xã T có hòa giải giữa ông Đ và ông T, nhưng cả 02 lần ông T đều vắng mặt nên Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản hòa giải không thành. Nhận thấy việc ông T chiếm dụng phần đất của ông Đ là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ. Do đó, ông Đ khởi kiện yêu cầu ông T trả lại phần đất có diện tích 2.300m² thuộc thửa 486, tờ bản đồ số 01 theo tài liệu 02/CT-UB. xã T, huyện B cho ông Phan Văn Đ và hủy giấy chứng nhận số CH02585 ngày 22/03/2013 của UBND huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Thế T.

Tại phiên tòa, ông Đ trình bày: Sau khi đo đạc lại phần đất tranh chấp, ông Đ xác định yêu cầu ông T trả lại phần đất tranh chấp có diện tích 2.297,9m² thuộc thửa 486, tờ bản đồ số 01 theo tài liệu 02/CT-UB, xã T, huyện B (theo bản đồ hiện trạng vị trí lập ngày 18/7/2016 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H). Ông Đ thống nhất sử dụng bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố H phát hành ngày 18/7/2016 để giải quyết vụ án.

Ông Nguyễn Thế T (bị đơn) trình bày tại bản tự khai ngày 14/12/2015 như sau: Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ khởi kiện ông yêu cầu ông T trả phần đất có diện tích 2300m² thuộc thửa 486, tờ bản đồ số 01 theo tài liệu 02/CT-UB, xã T, huyện B và yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 02585 ngày 22/03/2015 của UBND huyện B cấp cho ông thì ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Vì phần đất này là do cha ông là ông Nguyễn Văn C cho ông và phần đất này đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình ông. Do sức khỏe không tốt, không đi được nên ông xin vắng mặt tại tòa, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Mỹ H2 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày tại bản tự khai ngày 05/6/2023 như sau: Ông Đ khởi kiện ông T tranh chấp liên quan đến phần đất 2300 m² thuộc thửa 486 tờ bản đồ số 01, xã T, thì bà H2 xác định không tranh chấp, không yêu cầu trong vụ án nêu trên. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án nêu trên theo quy định pháp luật. Bà H2 xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Bà Lê Thị Ngọc Đ2 (một trong những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thế A (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan)) trình bày tại bản tự khai ngày 05/6/2023 như sau: Bà là vợ của ông Nguyễn Thế A. Ông Đ khởi kiện ông T tranh chấp liên quan đến phần đất có diện tích 2300 m² thuộc thửa 486 tờ bản đồ số 01, xã T, bà xác định không tranh chấp, không yêu cầu trong vụ án nêu trên. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án nêu trên theo quy định pháp luật. Bà Đ2 xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Bà Nguyễn Thị D (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày tại biên bản lấy lời khai do Tòa án lập ngày 31/12/2020 và tại phiên tòa như sau: Bà là vợ của ông Đ. Nay ông Đ khởi kiện ông T thì bà cũng có ý kiến như ý kiến của ông Đ là yêu cầu ông T trả lại cho ông Đ phần đất có diện tích 2297,9 m² thuộc thửa đất số 486 (486-1) tờ bản đồ số 1, xã T (theo tài liệu 02/CT-UB) tương ứng thửa đất số 547 (547- 1) tờ bản đồ số 14, xã T (theo tài liệu năm 2004). Mọi việc tranh chấp liên quan đến phần đất trên thì để cho ông Đ quyết định và giải quyết, bà D xác định là bà không có tranh chấp và không có yêu cầu gì trong vụ án. Bà được Tập đoàn giao vào năm 1977, bà đã quản lý sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1977 đến năm 1993 thì ông T chiếm giữ cho đến nay.

Bà Nguyễn Thị Kim H (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày tại bản tự khai ngày 16/12/2015 như sau: Trong vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông T và ông Đ, bà hoàn toàn đồng ý với những ý kiến của ông T, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

Ông Nguyễn Thế L và bà Nguyễn Thị Kim Á (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày tại bản tự khai ngày 14/12/2015 như sau: Ông là con của ông Nguyễn Thế T và bà Phùng Sam Y, đối với việc tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Đ và ông T thì ông bà hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông T. Ngoài ra, ông bà không còn ý kiến gì thêm.

Bà Phùng Sam Y (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày tại bản tự khai ngày 14/12/2015 như sau: Bà là vợ của ông T, bà hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông T. Ngoài ra, bà không còn ý kiến gì thêm.

Ông Nguyễn Thế Đ1, ông Nguyễn Thế H1, ông Nguyễn Chí T4 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày tại các bản tự khai như sau: Ông Nguyễn Thế Đ1, ông Nguyễn Thế H1, ông Nguyễn Chí T4 là con của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị Vĩnh . Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ thì ông Nguyễn Thế Đ1, ông Nguyễn Thế H1 và ông Nguyễn Chí T4 không đồng ý với lý do nguồn gốc này là của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị V1 để lại cho con là ông Nguyễn Thế T. Ông T vẫn sử dụng từ khi ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị V1 cho đến nay.

Bà Nguyễn Thị T3 – người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện B (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày tại bản tự khai ngày 14/4/2016 như sau:

Vị trí, nguồn gốc khu đất: Phần đất do hộ ông Nguyễn Thế T đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vị trí thuộc trọn thừa số 486, tờ bản đồ số 1, theo tài liệu 02/CT- UB, tương ứng một phần thửa số 123, trọn thửa số 125, tờ bản đồ số 14, theo tài liệu BĐĐC, thuộc Bộ địa chính xã T, huyện B. Tổng diện tích 4.825 m², loại đất lúa.

Nguồn gốc đất: Phần đất trên do bà Lê Thị V1 cho con là ông Nguyễn Thế T từ năm 1995 (cho không có giấy tờ, nhưng có Tờ cam kết do bà Lê Thị Vĩnh 1 ngày 19 tháng 12 năm 2012 được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 24 tháng 12 năm 2012 về việc cho đất cho con là ông Nguyễn Thế T), được Ủy ban nhân dân huyện B ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp giấy chứng nhận CH: 02585 ngày 22 tháng 2 năm 2013, cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T.

Về quy hoạch: Căn cứ Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) huyện B được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt kèm theo Quyết định số 209/QĐ-UBND ngày 16 tháng 11 năm 2009, vị trí khu đất thuộc chức năng quy hoạch là đất bãi thải, xử lý chất thải.

Căn cứ Bản đồ quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội-môi trường phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã T, được Ủy ban nhân dân huyện B phê duyệt kèm theo. Quyết định số 4833/QD-UBND ngày 15 tháng 6 năm 2011, vị trí khu đất thuộc chức năng quy hoạch là đất nông nghiệp.

Căn cứ Bản đồ quy hoạch chung xây dựng huyện B đến năm 2020 được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt kèm theo Quyết định số 6013/QD-UBND ngày 26 tháng 11 năm 2012, vị trí khu đất thuộc chức năng quy hoạch là đất nông nghiệp.

Thành phần hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Quyết định số 558/QĐ-UBND ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1494/QSDĐ ngày 14 tháng 8 năm 2000 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T5 do sai chủ sử dụng đất.

Biên bản ngày 28 tháng 02 năm 2012 của Phòng Tài nguyên và Môi trưởng về việc trao Quyết định số 558/QĐ-UBND ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện B.

Thông báo số 116/TB-UBND ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã T về việc công khai danh sách hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đính kèm danh sách).

Biên bản số 26/BB-UBND ngày 07 tháng 8 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã T về việc kết thúc niêm yết công khai danh sách hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đính kèm danh sách).

Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tái sản khác gắn liền với đất do hộ ông Nguyễn Thế T lập ngày 10 tháng 6 năm 2012, được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 07 tháng 8 năm 2012.

Tờ tưởng trình nguồn gốc do ông Nguyễn Thế T lập ngày 10 tháng 6 năm 2012, được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 07 tháng 8 năm 2012.

Dự thảo Phiếu công khai thông tin nhà đất đối với thửa đất số 123 và thửa đất số 125, tờ bản đồ số 14, theo tài liệu BDDC được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 07 tháng 8 năm 2012.

Công văn số 315/UBND ngày 17 tháng 8 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã T về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thế T.

Tờ Trình số 160/TTr-UBND ngày 17 tháng 8 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã T về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tờ cam kết do bà Lê Thị Vĩnh 1 ngày 19 tháng 12 năm 2012 được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 24 tháng 12 năm 2012.

Bản đồ hiện trạng vị trí số 0100/2012 do Công ty TNHH Đ3 lập ngày 15 tháng 02 năm 2012, được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B duyệt ngày 23 tháng 02 năm 2012.

Công văn số 2982/VPĐK ngày 17 tháng 10 năm 2012 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B về việc phúc đáp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gần liền với đất.

Công văn số 3340/VPDK ngày 27 tháng 11 năm 2012 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B về việc phúc đáp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Công văn số 178/VPĐK ngày 30 tháng 01 năm 2013 của Văn phòng dăng ký quyền sử dụng đất huyện B về việc nộp tiền thuế chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ.

Tờ trình số 112/TT-TNMT ngày 01 tháng 02 năm 2013 của Phòng T6 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Trường hợp cấp giấy chứng nhận lần đầu).

Trên cơ sở thành phần hồ sơ, nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T và đề xuất của Phòng T6. Ngày 22 tháng 02 năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện B ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp giấy chứng nhận CH 02585, cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T, thuộc thửa đất số 547 (phân chiết từ một phần thửa số 123 và trọn thửa số 125), tờ bản đồ số 14, theo tài liệu BĐĐC, diện tích 4.825m², loại đất trồng lúa.

Căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

Căn cứ khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, quy định: “Hộ gia đình. cả nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của C1 phủ”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 38 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ quy định về đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu được thực hiện trong các trường hợp sau: “Người đang sử dụng đất mà thưa đất đủ chưa dc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng lặt, quyền và tài sản khác gắn liền với đất".

Căn cứ Điều 14 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với trường hợp thửa đất không có tài sản gắn liền với đất hoặc có tài sản nhưng không có nhu cầu chứng nhận quyền sở hữu hoặc có tài sản nhưng thuộc quyền sở hữu của chủ khác

Căn cứ thành phần hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liễn với đất của hộ ông Nguyễn Thế T và các văn bản pháp luật có liên quan. Ngày 22 tháng 02 năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện B ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp giấy chứng nhận CH 02585, cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T, thuộc thửa đất số 547 (phần chiết từ một phần thừa số 123 và trọn thừa số 125, tờ ban đồ số 14, theo tài liệu BĐĐC, diện tích 4.825m2, loại đất trồng lúa, là đúng trình tự, thủ tục được quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận.

Do đó, Ủy ban nhân dân huyện không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ về việc yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 02585 ngày 22 tháng 2 năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T, tại xã T, huyện B.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 403/2023/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định:

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Phan Văn Đ đối với ông Nguyễn Thế T về việc yêu cầu ông Nguyễn Thế T trả lại phần đất có diện tích 2297,9m² thuộc một phần thửa số 486 tờ bản đồ số 1 (Tài liệu 02/CT-UB), tương ứng với một phần thửa số 547 tờ bản đồ số 14 (Tài liệu 2004), xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ- Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H phát hành 18/7/2016).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phan Văn Đ về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyển sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 005647 số vào sổ cấp GCN: CH02585 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T ngày 22/02/2013.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 02 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn ông Phan Văn Đ có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 403/2023/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông Phan Văn Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu ông Nguyễn Thế T trả lại phần đất có diện tích 2297,9m² thuộc một phần thửa số 486 tờ bản đồ số 1 (Tài liệu 02/CT-UB), tương ứng với một phần thửa số 547 tờ bản đồ số 14 (Tài liệu 2004), xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 005647 số vào sổ cấp GCN: CH02585 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T ngày 22/02/2013.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về hình thức: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Phan Văn Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 403/2023/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức:

[1.1] Nguyên đơn ông Phan Văn Đ nộp đơn kháng cáo, biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên đơn kháng cáo của ông Đ được chấp nhận.

[1.2] Ông Nguyễn Thế T, bà Phùng Sam Y, bà Nguyễn Thị Kim H, ông Nguyễn Thế L, bà Nguyễn Thị Kim Á, bà Nguyễn Thị T3, ông Nguyễn Thế H1, ông Nguyễn Chí T4, bà Nguyễn Thị Mỹ H2, bà Lê Thị Ngọc Đ2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; Ông Bùi Tấn T1, bà Lâm Bích T2, ông Nguyễn Văn T5, bà Nguyễn Thị Kim H6, bà Nguyễn Thị Kim H7, em Nguyễn Thế V, em Nguyễn Thế H5 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Thế T trả lại phần đất có diện tích 2297,9m² thuộc một phần thửa số 486 tờ bản đồ số 1 (Tài liệu 02/CT-UB), tương ứng với một phần thửa số 547 tờ bản đồ số 14 (Tài liệu 2004), xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, việc tranh luận tại phiên tòa cũng như quá trình giải quyết toàn diện vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: phần đất có diện tích 2.297,9m² thuộc thửa số 486-1, tờ bản đồ số 01, xã T (theo tài liệu 02/CT-UB) tương ứng với thửa số 547, tờ bản đồ số 14 (BĐĐC). Nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn C sử dụng từ năm 1975, đến năm 1977 ông C đưa đất của mình vào tập đoàn để cấp đất cho xã viên là bà Nguyễn Thị D sử dụng phần đất trên. Sau khi không còn làm tập đoàn chủ đất cũ là ông Nguyễn Văn C lấy lại phần đất của bà Nguyễn Thị D để cho con là ông Nguyễn Thế T sử dụng, được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp giấy chứng nhận CH: 02585 ngày 22 tháng 2 năm 2013, cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T.

Ông Phan Văn Đ khởi kiện ông T vì cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình ông Đ sử dụng từ năm 1975 nhưng ông Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh phần đất có nguồn gốc từ gia đình của ông Đ. Ngoài ra, ông Đ không có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 điều 100 Luật đất đai 2013. Đồng thời, ông Đ cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh ông Đ có quá trình đăng ký, kê khai, sử dụng phần đất tranh chấp. Do đó, ông Đ yêu cầu ông Nguyễn Thế T trả lại phần đất có diện tích 2297,9m² thuộc một phần thửa số 486 tờ bản đồ số 1 (Tài liệu 02/CT-UB), tương ứng với một phần thửa số 547 tờ bản đồ số 14 (Tài liệu 2004), xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là không có căn cứ. Do đó, kháng cáo của ông Phan Văn Đ là không có căn cứ chấp nhận.

Do ông Đ yêu cầu ông Nguyễn Thế T trả lại phần đất có diện tích 2297,9m² thuộc một phần thửa số 486 tờ bản đồ số 1 (Tài liệu 02/CT-UB), tương ứng với một phần thửa số 547 tờ bản đồ số 14 (Tài liệu 2004), xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh không được chấp nhận nên yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 005647 số vào sổ cấp GCN: CH02585 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T ngày 22/02/2013 cũng không được chấp nhận.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.

Từ những phân tích và nhận định trên. Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của ông Phan Văn Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 403/2023/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Văn Đ phải chịu 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền 5.750.000 đ (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền tạm ứng án phí mà ông Phan Văn Đ đã nộp theo biên lai thu số AE/2011/08195 ngày 24/12/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. ông Phan Văn Đ được nhận lại 5.550.000 đ (năm triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).

4. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn Đ phải chịu toàn bộ chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá mà ông Đ đã đóng tạm ứng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Ông Phan Văn Đ đã nộp đủ.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0020114 ngày 08/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phan Văn Đ đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 403/2023/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Phan Văn Đ đối với ông Nguyễn Thế T về việc yêu cầu ông Nguyễn Thế T trả lại phần đất có diện tích 2297,9m² thuộc một phần thửa số 486 tờ bản đồ số 1 (Tài liệu 02/CT-UB), tương ứng với một phần thửa số 547 tờ bản đồ số 14 (Tài liệu 2004), xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ- Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H phát hành 18/7/2016).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phan Văn Đ về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 005647 số vào sổ cấp GCN: CH02585 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Thế T ngày 22/02/2013.

Việc thực hiện các nội dung của quyết định nêu trên được thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Văn Đ phải chịu 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền 5.750.000 đ (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền tạm ứng án phí mà ông Phan Văn Đ đã nộp theo biên lai thu số AE/2011/08195 ngày 24/12/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. ông Phan Văn Đ được nhận lại 5.550.000 đ (năm triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn Đ phải chịu toàn bộ chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá mà ông Đ đã đóng tạm ứng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Ông Phan Văn Đ đã nộp đủ.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0020114 ngày 08/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phan Văn Đ đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP . HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - TAND huyện Bình Chánh;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Chánh;
  • - Cục THADS TP. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Việt Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 387/2024/DS-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 387/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger