|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 387/2023/DS-PT Ngày: 17-11-2023 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Ngọc Yến |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Văn Những |
| Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát, Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 265/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 608/2023/QĐ-PT ngày 05 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N:
-
Ông Lê Tiến D, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Số B đường số A, khu dân cư B, xã B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 13/9/2023 tại Văn phòng C2).
-
Ông Lâm S, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phạm Đức H, thuộc Công ty L6, Đoàn Luật sư Thành phố H.
-
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Huy H1, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Số A N, phường N, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: A25, khu dân cư T, khu phố B, phường P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H1: Ông Đào Tiến L (theo Giấy ủy quyền ngày 05/4/2023 tại phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Lâm S, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Bà Lâm Thị Thanh X, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số A đường S, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
-
Ông Trần Văn T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số A ấp A, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bà Trần Thị H2, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số A ấp A, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bà Lê Thị Bé H3, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Số A N, phường N, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: A25, khu dân cư T, khu phố B, phường P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bé H4: Ông Đào Tiến L (theo giấy ủy quyền ngày 05/4/2023 tại phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh).
-
Ông Lê Thanh L1, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Bà Lê Thị Thu H5, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
-
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Bà Hồ Thị D1, sinh năm 1946.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Ông Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Văn phòng công chứng Trần Văn C.
Địa chỉ: Số 825, ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
-
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/10/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Lâm S đại diện cho nguyên đơn trình bày như sau:
Bà N là chủ sở hữu của hai thửa đất số 664, 665, tờ bản đồ số 8, đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Phần đất có tổng diện tích đất ngang 5 mét, dài 85 mét của bà N tiếp giáp với thửa đất 165. Bà N đã sử dụng ổn định phần đất trên từ 2003 cho đến nay. Bà N đã xây dựng hàng rào kiên cố bao quanh và trồng các loại cây ăn quả lâu năm trên phần đất của mình.
Ông Nguyễn Huy H1 là chủ sở hữu các thửa đất 161, 162, 163, tờ bản đồ số 08, giáp ranh với thửa 664, 665 của bà N. Bà N không biết ông H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở phía sau nhà bà N, ngang 5 mét, dài 47 mét. Trên bản đồ địa chính, thể hiện phần đất của bà N nằm trên thửa 163 của ông H1. Lấy lý do là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H1 nhiều lần có hành vi đập phá tường rào, lấn chiếm, gây khó khăn, cản trở gia đình bà N sử dụng phần đất thuộc sở hữu của mình.
Phần đất ngang 5 mét, dài 47 mét đã được bà xây dựng vuông rào vuông vứt từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay và trồng một số cây ăn quả.
Khi chồng bà là ông Lâm Văn X1 mua lại từ giấy tay của ông Nguyễn Văn M. Tuy nhiên, thời điểm đó khó khăn nên chưa làm thủ tục sang tên thì ông M đã chuyển nhượng phần đất đó cho ông T. Gia đình bà không hề biết vấn đề đó.
Nay bà N yêu cầu:
-
Yêu cầu ông H1 chấm dứt hành vi lấn chiếm, trả lại cho bà N phần đất có diện tích ngang 5m, dài 47m thuộc một phần thửa đất số 163, tờ bản đồ số 8, tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 226397 đối với phần đất có diện tích ngang 5m, dài 47m thuộc một phần thửa đất số 163, tờ bản đồ số 8, tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 04/11/2022, ông Lâm S có đơn khởi kiện bổ sung:
-
Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký ngày 28/10/2020 tại Văn phòng C4 giữa ông Trần Văn T, bà Trần Thị H2 với ông Nguyễn Huy H1.
-
Công nhận 01 phần thửa đất số 163, tờ bản đồ số 18, diện tích 198,1m², loại đất lúa, đất tại xã H thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Lê Thị Niềm.
Bà N không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng với vợ, con của ông Nguyễn Văn M, xác định trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì nguyên đơn cũng không yêu cầu gia đình ông M bồi thường, nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện và giải quyết bằng vụ án khác.
Ngoài ra, bà N không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn ông Nguyễn Huy H1 trình bày như sau: Tháng 8/2020, ông Nguyễn Thanh L3 chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho ông Trần Văn T thửa đất số 163, tờ bản đồ số 8, với diện tích 865m², đất lúa (gọi tắt là thửa 163), đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An và đã được đăng ký biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ226397 ngày 07/9/2020.
Đến tháng 10/2020, ông Trung chuyển n toàn bộ thửa đất nêu trên cho ông H1 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng công chứng Trần Văn C chứng nhận số 14940, quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/10/2020. Đồng thời đã đăng ký biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên ông vào ngày 26/3/2021.
Ngoài thửa đất nêu trên, ông có nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn T thửa đất số 161, 162, tờ bản đồ số 8, đất tại ấp T, xã H. Thửa đất này liền kề thửa 163 nêu trên và giáp đường N2.
Việc nhận chuyển nhượng các thửa đất nêu trên là hoàn toàn hợp pháp và không tranh chấp với ai. Khi bàn giao đất, bản thân ông và ông Trần Văn T có xuống hiện trạng đất và chỉ ranh đất, có cọc mốc cụ thể.
Lợi dụng thời gian giãn cách xã hội do dịch Covid 19, vào tháng 6 năm 2021, gia đình bà N đã có hành vi xâm phạm đến quyền sử dụng đất của ông tại một phần thửa 163 nêu trên, cụ thể ông S và vợ là bà H5 cho xây tường rào cao 1,6m, cột bê tông được xây dựng trên diện tích 5 x 12m. Ông biết được sự việc này ngay khi ông Lâm S xây dựng, nhưng do giãn cách xã hội nên ông không thể ngăn chặn kịp thời hành vi của ông S. Ông có nhờ Ủy ban nhân dân xã giải quyết nhưng kết quả hòa giải không thành.
Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N.
Đồng thời có yêu cầu phản tố, buộc bà N phải tháo dỡ toàn bộ hiện trạng gồm tường gạch, cột bê tông, cây trồng đã trồng trên đất mà bà N đã xây dựng trái phép trên phần đất của ông. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Huy H1 tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời tài sản trên đất cho gia đình bà N 30.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm S và bà Lê Thị Thu H5 trình bày như sau: Hiện nay, phần đất đang tranh chấp nêu trên do ông và vợ là bà Lê Thị Thu H5 đang quản lý, sử dụng; trên đất có trồng một số cây. Nay ông bà thống nhất với lời trình bày của bà N trong vụ án tranh chấp nêu trên, ông bà không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Thanh X trình bày như sau: Ông Lâm Văn X1 có vợ là bà N và có hai con là ông Lâm S và bà Lâm Thị Thanh X. Trong vụ án này, bà thống nhất với lời trình bày của ông Lâm S, không ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T trình bày như sau: Thửa đất số 163, tờ bản đồ số 8, với diện tích 865m², đất lúa (gọi tắt là thửa 163), đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là do ông nhận chuyển nhượng từ ông Lê Thanh L1. Khi nhận chuyển nhượng, có chỉ mốc ranh rõ ràng, tình trạng là đất trống, không có hàng rào xây dựng như bây giờ. Sau đó, ông chuyển nhượng thửa đất này cho ông H1, cũng đã chỉ ranh rõ ràng. Nay trong vụ án này, ông không có ý kiến gì khác, vợ ông là bà H2 cũng thống nhất theo lời trình bày của ông, không ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh L1 trình bày như sau: Thửa đất số 163, tờ bản đồ số 8, với diện tích 865m², đất lúa (gọi tắt là thửa 163), đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là do ông nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn M. Khi nhận chuyển nhượng, có chỉ mốc ranh rõ ràng. Phần đất đang tranh chấp là của ông M đã bán cho ông X1 nhưng ông X1 chưa ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông M đã chuyển nhượng toàn bộ đất cho ông. Thửa đất nêu trên do ông cầm cho người khác, người khác mới nhận ủy quyền, sau đó chuyển cho ông T nên khi giao đất, không có chỉ ranh mốc rõ ràng. Khi ông chuyển nhượng, tình trạng là đất trống, không có hàng rào xây dựng như bây giờ. Nay trong vụ án này, ông không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Bé H3 do ông Đào Tiến L là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau: Bà Bé H4 là vợ của ông Nguyễn Huy H1. Trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất này, bà Bé H4 thống nhất theo lời trình của ông H1, không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Thanh L4 trình bày như sau: Các ông là con của ông Nguyễn Văn M. Năm 2003, ông M có hứa chuyển nhượng cho ông X1 thửa đất số 163, tờ bản đồ số 8, với diện tích 865m², đất lúa (gọi tắt là thửa 163), đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, hai bên có lập giấy tay. Ông M đã giao đất cho ông X1 quản lý, sử dụng. Việc ông X1 không được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình ông M không biết. Trong vụ án này, các ông bà không có ý kiến gì khác; mẹ các ông là bà Hồ Thị D1 đã lớn tuổi, sức khỏe yếu nên không đi lại được, thống nhất theo ý kiến của các ông.
Ông Lâm S, ông Đào Tiến L thống nhất theo Mảnh trích đo địa chính số 279-2022 của Công ty TNHH Đ đo ngày 30/8/2022, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 08/9/2022 và Chứng thư Thẩm định giá số 339/07/10/2022/TĐG LA – BĐS ngày 07/10/2022 của Công ty Cổ phần T3.
Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành hòa giải tranh chấp giữa các bên nhưng kết quả không thành nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; khoản 16 Điều 3, Điều 26, 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 691 Bộ luật Dân sự năm 1995; khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N do ông Lâm S đại diện theo uỷ quyền tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Huy H1.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Huy H1 đối với bà Lê Thị N.
Buộc bà Lê Thị N liên đới với ông Lâm S, bà Lê Thị Thu H5 tháo dỡ hàng rào xây dựng có kết cấu móng cột gạch, tường gạch, lưới B40 và toàn bộ cây trồng trên diện tích đất 198,1m² thuộc một phần thửa số 163, tờ bản đồ số 18, loại đất LUC, quyền sử dụng đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Huy H1.
Vị trí phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo địa chính số 279-2022 do Công ty TNHH Đ lập ngày 30/8/2022 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 08/9/2022.
Ghi nhận sự tự nguyện ông Nguyễn Huy H1 tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời hàng rào và cây cối cho bà Lê Thị N, ông Lâm S, bà Lê Thị Thu H5 số tiền 30.000.000 đồng (Ba chục triệu đồng chẳn).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 03/7/2023, nguyên đơn bà Lê Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ông Lê Tiến D là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị N thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đưa thiếu người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là DNTN số 27 do ông Phạm Hữu T2 là người đại diện ký hợp đồng thuê một phần thửa đất số 163 của bà N từ năm 2015 để lắp đặt trụ điện. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm không định giá cây trồng và tài sản trên phần đất tranh chấp là thiếu sót làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N.
Ông Lâm S thống nhất với lời trình bày của ông Lê Tiến D, không bổ sung gì thêm.
Ông Đào Tiến L là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Huy H1 không đồng ý đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn vì ông H1 nhận chuyển nhượng thửa đất số 163, tờ bản đồ số 8, diện tích 865m², loại đất lúa tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An từ ông Trần Văn T theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng công chứng Trần Văn C chứng nhận số 14940, quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/10/2020. Ông H1 đã đăng ký biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên ông vào ngày 26/3/2021. Việc bà N nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Văn M năm 2003 là việc của bà N và ông M, không liên quan đến ông H1. Việc bà N cho DNTN số 27 do ông Phạm Hữu T2 là người đại diện ký hợp đồng thuê một phần thửa đất số 163 có diện tích 90m² để lắp đặt trụ bê tông kéo điện nguồn, cáp quang cho trạm phát sóng BTS ông H1 hoàn toàn không hay biết. Ông Long đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ y bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa. Đối với việc bà N cho thuê một phần đất thuộc thửa 163 của ông H1, ông H1 sẽ thỏa thuận với bà N và ông T2. Nếu không thỏa thuận được, ông H1 sẽ khởi kiện bà N và DNTN số 27 do ông Phạm Hữu T2 là người đại diện.
Ông Lê Thanh L1 trình bày: Năm 2020 khi ông chuyển nhượng thửa 163 cho ông Trần Văn T, ông có chỉ ranh cho ông T là một phần thửa đất 163 do ông Lâm S - con bà Lê Thị N đang quản lý, sử dụng (do tách ra không được). Việc ông chỉ ranh có chừa phần đất bà N đang tranh chấp với ông H1, ông L1 không có chứng cứ gì chứng minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật sư Phạm Đức H trình bày: Ngày 03/7/2023, bà Lê Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Tiến D và ông Lâm S là người đại diện theo ủy quyền của bà N thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau: Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa không ghi nhận đầy đủ các tài sản trên đất tranh chấp như trụ điện và các cây trồng, hệ thống thoát nước. Đưa thiếu người tham gia tố tụng là DNTN số 27 do ông Phạm Hữu T2 đại diện ký hợp đồng thuê quyền sử dụng một phần thửa 163 với bà N làm ảnh hưởng đến quyền lợi của DNTN số 27. Mặt khác, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông H1 là không ngay tình vì trên đất có tài sản của người khác là đối tượng không thể thực hiện được. Ngoài ra, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L1 và ông T có dấu hiệu hợp đồng giả tạo vì không phù hợp giá thực tế. Khi ông H1 nhận chuyển nhượng thửa đất 163 từ ông T vào năm 2020, ông H1 có biết bà N đã nhận chuyển nhượng một phần thửa 163 có diện tích 198,1m² từ ông Nguyễn Văn M vào năm 2023. Từ các căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Ông Lê Tiến D, ông Lâm S, ông Đào Tiến L và ông Lê Thanh L1 không phát biểu tranh luận.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, thấy rằng: Tòa án cấp phúc thẩm đã có ghi lời khai đối với ông Phạm Hữu T2 là người đại diện DNTN số 27 ký hợp đồng thuê một phần thửa đất 163 với bà N năm 2015, ông T2 có ý kiến không có yêu cầu gì trong vụ án này, ông sẽ thương lượng với bà N và ông H1; nếu các bên không thỏa thuận được ông sẽ khởi kiện bà N bằng một vụ án khác. Đối với lời trình bày của Luật sư là Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét thẩm định tại chỗ đầy đủ tài sản trên đất, thấy rằng: Bà N và ông Lâm S sinh xây hàng rào và trồng cây trên đất cũng như làm các công trình phụ khác trên đất tranh chấp sau thời điểm ông H1 nhận chuyển nhượng đất và được cập nhật biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/3/2021. Như vậy bà N và ông Lâm S xây hàng rào, trồng cây cũng như làm các công trình khác trên đất của ông H1 khi chưa được sự đồng ý của ông H1 là trái phép. Đối với “Tờ sang nhượng đất” (viết tay) ngày 01/5/2003 giữa ông Lâm Văn X1 (chồng bà N) và ông Nguyễn Văn M không ghi rõ thửa đất chuyển nhượng; yêu cầu của bà N cũng không phù hợp quy định về tách thửa theo Quyết định số 42 của Ủy ban nhân dân tỉnh L nên bà N có quyền khởi kiện tranh chấp đối với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn M để khởi kiện bằng một vụ án dân sự độc lập khác. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Lê Thị N được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
-
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị N khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Nguyễn Huy H1. Các thửa đất tranh chấp tọa lạc tại huyện Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
-
[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Thanh X, ông Trần Văn T, bà Trần Thị H2, bà Lê Thị Thu H5, ông Nguyễn Văn T1, bà Hồ Thị D1, ông Nguyễn Thanh L2, Văn phòng công chứng Trần Văn C vắng mặt lần thứ hai nhưng đã được Tòa án tống đạt thủ tục hợp lệ. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các người có tên nêu trên.
-
[4] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Thửa đất số 163, tờ bản đồ số 8, diện tích 865m², loại đất lúa tọa lạc xã H, huyện Đ, tỉnh Long An ông Nguyễn Văn M được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997. Ngày 31/10/2013, ông Nguyễn Văn M và vợ là bà Hồ Thị D1 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) thửa 163 cho ông Lê Thanh L1, được Phòng C5 công chứng hợp đồng. Ông Lê Thanh L1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/12/2013. Ngày 29/7/2020, ông Lê Thanh L1 và vợ là bà Trịnh Thị Kim C1 lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa 163 cho ông Trần Văn T, hợp đồng được Văn phòng công chứng Nguyễn Văn L5 chứng nhận cùng ngày. Ông T được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cập nhật biến động chuyển nhượng ngày 07/9/2020. Ngày 28/10/2020, ông Trần Văn T và vợ là bà Trần Thị H2 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn bộ thửa 163 cho ông Nguyễn Huy H1, hợp đồng được Văn phòng C4 chứng nhận cùng ngày. Ông H1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cập nhật biến động chuyển nhượng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/3/2021.
-
[5] Xét kháng cáo của bà Lê Thị N, thấy rằng:
[5.1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp thể hiện: Vào ngày 01/5/2003, ông Nguyễn Văn M lập “Tờ sang nhượng đất” (viết tay) có nội dung chuyển nhượng cho ông Lâm Văn X1 (chồng bà N) một phần đất có chiều ngang khoảng 5m, chiều dài 35m với giá 10.000.000 đồng, không ghi rõ thửa đất nhưng mặt sau hình vẽ có thể hiện hình thể và tứ cận mảnh đất; được gia đình ông M, bà N xác định là phần đất tranh chấp; giấy tay chuyển nhượng đất không thể hiện thửa đất và tờ bản đồ số mấy. Việc chuyển nhượng không lập hợp đồng có chứng thực theo quy định tại Điều 691 Bộ luật Dân sự năm 1995.
[5.2] Ông Trần Văn T xác định khi nhận chuyển nhượng thửa đất 163 từ vợ chồng ông L1 và bà C1; ông H1 xác định khi nhận chuyển nhượng thửa đất số 163 từ vợ chồng ông T và bà H2 thì cả ông T và ông H1 đều hoàn toàn không biết việc ông M có lập giấy tay bán một phần thửa đất 163 cho ông X1. Khi nhận chuyển nhượng đất và giao đất, cả ông T và ông H1 có xuống thửa đất để chỉ ranh giới và hiện trạng đất tại thời điểm chuyển nhượng là đất trống, không có tường rào như hiện nay. Lời trình bày của ông H1, ông T phù hợp với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/7/2022 và lời trình bày của ông Lâm S tại Biên bản hòa giải ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thì hàng rào được ông Lâm S xây dựng vào tháng 6 năm 2021; lời trình bày của ông Lâm S phù hợp với lời trình bày của ông H1 là gia đình bà N lợi dụng thời gian giãn cách xã hội do dịch Covid 19, vào tháng 6 năm 2021 ông S và vợ là bà H5 cho xây tường rào cao 1,6m, cột bê tông trên diện tích 5 x 12m tại một phần thửa 163 của ông. Như vậy, việc bà N và ông Lâm S xây hàng rào, trồng cây cũng như làm các công trình khác trên đất của ông H1 khi chưa được sự đồng ý của ông H1 là trái phép vì ông H1 nhận chuyển nhượng thửa 163 từ ông T vào ngày 28/10/2020, ông H1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cập nhật biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên ông H1 ngày 26/3/2021.
[5.3] Ông Lê Thanh L1 có lời khai: Khi ông chuyển nhượng đất có cùng ông T, ông H1 chỉ ranh đất và xác định trong thửa đất số 163 có phần đất do gia đình bà N, ông S quản lý sử dụng nhưng không được ông T, ông H1 thừa nhận; ông L1 không cung cấp được chứng cứ thể hiện có trừ ra diện tích đất bà N tranh chấp khi ông chuyển nhượng cho ông T. Mặt khác, theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông M sang ông L1; từ vợ chồng ông L1 sang ông T và từ vợ chồng ông T sang ông H1 đều là chuyển nhượng trọn thửa 163. Do đó, ngày 28/10/2020 ông H1 nhận chuyển nhượng thửa 163 từ vợ chồng ông T và đăng ký biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên ông vào ngày 26/3/2021 là ngay tình, hợp pháp, đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Đất đai.
[5.4] Đối với lời trình bày của bà Lê Thị N: Vào ngày 01/5/2003, ông Nguyễn Văn M lập “Tờ sang nhượng đất” (viết tay) có nội dung chuyển nhượng cho ông Lâm Văn X1 (chồng bà N) một phần đất có chiều ngang khoảng 5m, chiều dài 35m với giá 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông X1 và bà N cũng không làm thủ tục để được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Gia đình ông X1 và bà N không chứng minh được khi nhận chuyển nhượng đất đã trực tiếp sử dụng đất, có ranh giới rõ ràng hoặc xây dựng công trình kiến trúc để phân định ranh giới đất, dẫn đến đất đã chuyển quyền qua nhiều chủ sử dụng đất nhưng không biết, điều này dẫn đến người thứ ba nhận chuyển nhượng ngay tình cũng không biết được. Mặt khác, diện tích đất mà nguyên đơn yêu cầu công nhận đất không đáp ứng điều kiện về diện tích tối thiểu tách thửa đối với đất nông nghiệp theo Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh L quy định về điều kiện và diện tích tách thửa trên địa bàn tỉnh Long An. Trong quá trình tố tụng, bà N không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng với vợ và con của ông Nguyễn Văn M và xác định trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì bà N cũng không yêu cầu gia đình ông M phải bồi thường, nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện và giải quyết bằng vụ án khác. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ.
[5.5] Trong quá trình tố tụng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, ông Lê Tiến D là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N cung cấp cho Tòa án Hợp đồng về việc thuê quyền sử dụng đất (mặt bằng) trồng trụ điện cho trạm BTS ngày 17/3/2015 giữa bên cho thuê mặt bằng là bà Lê Thị N với bên thuê mặt bằng là DNTN số 27 do ông Phạm Hữu T2, sinh năm 1972 là Giám đốc đại diện ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất (mặt bằng) một phần của thửa đất số 163 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để lắp đặt trụ kéo bê tông kéo điện nguồn, cáp quang cho trạm phát sóng BTS, thời hạn thuê 20 năm, giá tiền thuê 15.000.000 đồng/năm.
[5.6] Tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đối với ông T2, ông T2 có ý kiến như sau: Ông T2 là bên thi công lắp đặt trụ BTS cho M1, đã thuê mặt bằng của bà Lê Thị N tại một phần thửa 163 có diện tích 90m² (theo Hợp đồng về việc thuê quyền sử dụng đất (mặt bằng) trồng trụ điện cho trạm BTS giữa bên cho thuê là bà Lê Thị N và bên thuê mặt bằng là DNTN số 27 do ông Phạm Hữu T2 là Giám đốc đại diện). Theo nội dung hợp đồng bên A cho bên B thuê quyền sử dụng đất (mặt bằng) với diện tích khu đất 90m² để lắp đặt trụ kéo bê tông kéo điện nguồn, cáp quang cho trạm phát sóng BTS, thời hạn thuê 20 năm, giá tiền thuê 15.000.000 đồng/năm. Vị trí, ranh giới khu đất được thỏa thuận do bên cho thuê chỉ định và xác định là một phần của thửa đất số 163 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Lâm Văn X1 và bà Lê Thị N mua của ông Nguyễn Văn M năm 2003 theo giấy tờ mua bán được viết tay lập ngày 01/5/2003, ông T2 thuê đất của bà N để cắm 02 trụ bê tông kéo điện nguồn AC phát sóng cho trạm phát sóng M2. Nếu Tòa án tuyên xử một phần thửa đất số 163, tờ bản đồ số 18, loại đất LUC, đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (trong đó có phần diện tích đất tôi thuê) thuộc về ông Nguyễn Huy H1 thì ông (T2) không có yêu cầu gì trong vụ án này. Ông T2 sẽ thương lượng với bà N trả lại ông số tiền còn lại và đề nghị ông H1 cho ông thuê đến hết hạn hợp đồng theo giá thuê đã ký với bà N. Nếu ông và bà N không thương lượng được, ông sẽ khởi kiện bà N bằng một vụ kiện khác. Trường hợp ông H1 không đồng ý cho ông T2 tiếp tục thuê đất; nếu ông H1 xây hàng rào ranh đất thì bên ông H1 cho ông T2 kẹp cây sắt V63 hoặc sắt hộp vuông 15x15 trên đầu cột hàng rào chờ đến khi ông T2 tìm phương hướng khác di dời đường dây điện trong thời gian sớm nhất.
[5.7] Từ những phân tích nêu trên thấy rằng kháng cáo của bà Lê Thị N là không có căn cứ, cho nên lời đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị N đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5.8] Bà Lê Thị N có quyền khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn M bằng một vụ án dân sự độc lập khác để bảo vệ quyền lợi cho bà (nếu bà có yêu cầu).
[5.9] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đào Tiến L là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Huy H1 đồng ý hỗ trợ cho bà N số tiền 30.000.000 đồng chi phí xây dựng tường rào. Người đại diện theo ủy quyền của bà N không đồng ý, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy việc hỗ trợ này có lợi cho bà N nên Tòa án ghi nhận là phù hợp.
-
[6]. Về chi phí tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bà Lê Thị N là người kháng cáo có yêu cầu nên phải chịu chi phí tố tụng này, nguyên đơn đã nộp và chi phí xong.
-
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp, đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
-
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị N phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị N.
Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; khoản 16 Điều 3, Điều 26, 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 691 Bộ luật Dân sự năm 1995; khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N do ông Lâm S đại diện theo ủy quyền về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn Huy H1.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Huy H1 đối với bà Lê Thị N:
2.1. Buộc bà Lê Thị N liên đới với ông Lâm S, bà Lê Thị Thu H5 tháo dỡ hàng rào xây dựng có kết cấu: Móng, cột gạch, xây tường gạch (móng không gia cố), lưới B40, trụ sắt và toàn bộ cây trồng trên diện tích đất 198,1m² thuộc một phần thửa số 163, tờ bản đồ số 18, loại đất LUA, quyền sử dụng đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Huy H1.
Vị trí phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo địa chính số 279-2022 do Công ty TNHH Đ lập ngày 30/8/2022 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ phê duyệt ngày 08/9/2022.
2.2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Huy H1 hỗ trợ chi phí di dời hàng rào và cây cối cho bà Lê Thị N, ông Lâm S, bà Lê Thị Thu H5 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẳn).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
-
Về chi phí tố tụng là 20.000.000 đồng (trong đó chi phí thẩm định là 2.000.000 đồng; chi phí định giá là 4.000.000 đồng; chi phí đo đạc là 14.000.000 đồng), bà N phải chịu toàn bộ chi phí này. Bà N đã nộp và chi phí xong.
-
Về án phí:
4.1. Bà Lê Thị N phải chịu 1.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước, nhưng được khấu trừ số tiền 900.000 đồng bà N đã nộp theo biên lai thu số 000997 ngày 30/3/2022; biên lai thu số 0007188 ngày 04/11/2022 và biên lai thu số 0007189 ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa. Bà N phải nộp thêm 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa.
4.2. Ông Nguyễn Văn H6 phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007039 ngày 25/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa. Ông H6 còn phải nộp thêm 1.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa.
-
Về chi phí tố tụng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ) tại giai đoạn phúc thẩm là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bà Lê Thị N đã nộp và chi phí xong.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003986 ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa sang thi hành án phí.
-
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Ngọc Yến |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Trần Tấn Quốc | Trần Trọng Nhân | Đinh Thị Ngọc Yến |
Bản án số 387/2023/DS-PT ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 387/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị N "Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất" Nguyễn Huy H
