|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 3866/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21 – 8 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Khuyến
- Bà Đỗ Thị Kiều Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 507/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5729/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Thanh An, xã Hậu Thạnh Tây, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An - Bị đơn: Ông Phạm Văn Đ1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà không số đường H, tổ E, khu phố M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ trình bày như sau:
Bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn Đ1 sống chung với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2013, quyển số 01/2012 ngày 18 tháng 02 năm 2013.
Trong quá trình chung sống vợ chồng bà Đ và ông Đ1 hạnh phúc được khoảng 10 năm thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do ông Đ1 tính tình nóng nảy, vũ phu, không lo làm ăn, có đôi khi vợ chồng còn xảy ra xô xát. Bà Đ và ông Đ1 đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 đến nay. Khi bà Đ nộp đơn xin ly hôn ở Tòa án bà Đ có thông báo cho ông Đ1 biết nhưng ông Đ1 không quan tâm và không đến Tòa án để giải quyết. Đến nay, bà Đ xác định không còn tình cảm với ông Đ1, không muốn kéo dài cuộc hôn nhân này nữa nên bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn Đ1.
- - Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Thái P, sinh ngày 19/02/2009. Hiện nay, cháu P đang ở với cha và bà nội, về kinh tế ông Đ1 có điều kiện tốt hơn bà Đ, có nhà ở ổn định, có mẹ ông Đ1 phụ chăm sóc cháu P. Từ khi bà Đ và ông Đ1 sống ly thân đến nay thì cháu P ở với ông Đ1 và bà nội. Thỉnh thoảng bà Đ có đến thăm con, có đưa tiền cho bà nội và cha của cháu để lo cho cháu nhưng bà nội và cha của cháu không nhận. Do đó, sau khi ly hôn bà Đ yêu cầu giao con Phạm Thái P cho ông Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà Đ không cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có.
Tại tờ trình bày nguyện vọng, cháu Phạm Thái P trình bày: Cháu hiện đang ở với cha và bà nội. Trường hợp cha mẹ cháu ly hôn thì cháu muốn ở với cha, vì ở cha có nhà ở ổn định, ở với cha có bà nội, từ bé đến giờ cháu được bà nội chăm sóc và lo lắng cho cháu ăn học.
Ông Phạm Văn Đ1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến làm việc, Thông báo tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia các phiên toà xét xử nhưng ông Đ1 vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và vắng mặt tại các phiên toà xét xử không có lý do.
Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu và ý kiến trình bày như trên.
Ông Phạm Văn Đ1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để tham gia các phiên toà xét xử nhưng ông Đ1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện việc cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và tiến hành giải quyết vụ án đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát nhận định yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn Đ1 sống chung và có đăng ký kết hôn với nhau. Nay bà Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đ1, đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Phạm Văn Đ1 có nơi cư trú tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [2] Về thủ tục tố tụng:
Ông Phạm Văn Đ1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Văn Đ1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [3] Về yêu cầu của đương sự:
Bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn Đ1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008 và có đăng ký kết hôn. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2013, quyển số 01/2012 ngày 18 tháng 02 năm 2013 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn Đ1 thì có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông Đ1 là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy rằng cuộc sống chung giữa bà Đ và ông Đ1 thực tế có xảy ra nhiều mâu thuẫn, thiếu sự quan tâm đến nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay bà Đ xác định không còn tình cảm với ông Đ1, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài và đã nộp đơn yêu cầu được ly hôn với ông Đ1. Ông Đ1 không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà Đ và cũng không quan tâm đến việc hoà giải, hàn gắn gia đình. Do đó, đã có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Đ và ông Đ1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Đ.
Bà Đ và ông Đ1 có 01 con chung tên Phạm Thái P, sinh ngày 19/02/2009. Xét thấy, từ trước đến nay cháu P ở với cha, được sự chăm sóc của cha và bà nội, ông Đ1 có nhà ở ổn định, có người phụ chăm sóc cho cháu P, ngoài ra cháu P có nguyện vọng được ở với cha. Bà Đ không có nhà ở và công việc chưa ổn định, thu nhập không cao. Ông Đ1 không quan tâm đến việc bà Đ có cấp dưỡng nuôi con hay không và không có yêu cầu bà Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định về tâm lý và thể chất của trẻ Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ về việc giao con chung Phạm Thái P cho ông Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà Đ xác định không có nợ chung nên Toà án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 và Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Phạm Văn Đ1. Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2013, quyển số 01/2012 ngày 18 tháng 02 năm 2013 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn Đ1 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Thái P, sinh ngày 19/02/2009 cho ông Phạm Văn Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
- Nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Đ đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025458 ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, bà Nguyễn Thị Đ đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Thu Hiền |
Bản án số 3866/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 3866/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
