|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 386/2024/HS-ST Ngày: 29 - 7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Chính
- Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường 5 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 318/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 78/2024/TB-TA ngày 20/6/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 124/2024/TB-TA ngày 15/7/2024 đối với:
- Bị cáo: Lê Thanh S (tên gọi khác: không). Giới tính: Nam. Sinh năm 1993, tại: Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: 282/2 (số mới 105/19/22), Khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Trình độ học vấn: Lớp 07/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Họ tên cha: Lê Thanh N, sinh năm 1965 (còn sống). Họ tên mẹ: Đỗ Thị S1, sinh năm 1964 (còn sống). Vợ: Lê Hoàng Minh T, sinh năm 1993; có 03 con chung, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 399/2017/HS-ST, đã được xóa án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 02/4/2024 và chuyển tạm giam theo Lệnh số 680/LTG-ĐTTH ngày 10/4/2024 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Nguyễn Minh N1, sinh năm 2003.
Địa chỉ: D, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thanh Thiện T1, sinh năm 1998.
Địa chỉ: 2, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung vụ án
Khoảng 19h00 phút ngày 30/3/2024, Nguyễn Minh N1, sinh năm: 2003, nơi thường trú: 429C/2, Khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số: 60F3-245.47 cùng bạn Nguyễn Văn Đức T2, sinh năm: 2007 đến nhà Lê Thanh Thiện T1, SN: 1998 là thợ xăm hình tại nhà, địa chỉ: 2, Khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc T1 đang xăm hình cho N1 và T2 ở trong nhà, Lê Thanh S, sinh năm: 1993 (anh của T1) đã trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số: 60F3-245.47 của N1 đang để ở ngoài sân do xe của N1 khóa điện, S không khởi động được, nên đã dẫn bộ xe đến nhà Trịnh Trung H, là người quen của S ở phường T, thành phố B để gửi, rồi S đi về nhà ngủ.
Đến khoảng 7h00 ngày 31/3/2024, S đến nhà H lấy xe trộm cắp dẫn bộ đến tiệm sửa xe máy của Võ Văn Đ, là thợ sửa xe tại Khu phố B, phường T, thành phố B nhờ Đ khởi động nổ máy nhưng Đ nói phải có chìa khóa điện tử thì mới khởi động được xe nên S để xe tại tiệm của Đ rồi đi bộ về nhà.
Đến 11 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, S đến Công an phường T đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô của N1 như đã nêu trên.
- - Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú đầu thú (Bút lục: 43)
- - Biên bản đối chất, biên bản mở Camera, ghi lời khai, bản tự khai của bị cáo và biên bản hỏi cung bị cáo; (Bút lục 20, 21 và 65-70)
- - Biên bản ghi lời khai bị hại, người làm chứng (Bút lục; từ 45 đến 50);
2. Về vật chứng của vụ án
- + 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số: 60F3-245.47 Cơ quan CSĐT Công an Thành phố B đã trả lại cho anh N1.
- + 01 USB lưu nội dung liên quan đến vụ án;
3. Về kết luận định giá tài sản
Bản Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 (một) xe mô tô, gắn máy biển số 60F3-245.47, trị giá 40.530.000 đồng (Bốn mươi triệu, năm trăm ba mươi ngàn đồng). (Bút lục 56 đến 59).
4. Về trách nhiệm dân sự
Bị hại Nguyễn Minh N1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.
5. Truy tố
- Bản cáo trạng số: 330/CT-VKSBH-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thanh S mức án từ 12 tháng đến 16 tháng tù, xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.
6. Ý kiến của bị cáo
- Tại phiên tòa bị cáo trình bày: bị cáo thống nhất với hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì đối với Kết luận giám định.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ như: biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản kiểm tra dữ liệu camera, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng. Đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 30/3/2024 tại địa chỉ 2, khu phố H, phường T, thành phố. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thanh S2 có hành vi trộm cắp tài 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số: 60F3-245.47 của anh Nguyễn Minh N1.
Như vậy, bị cáo Lê Thanh S đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Minh N1, giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là 40.530.000 đồng (Bốn mươi triệu, năm trăm ba mươi ngàn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng do lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên đã lợi dụng lúc bị hại sơ hở để lấy trộm tài sản mang đi tiêu thụ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ, làm mất trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa kết án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 399/2017/HS-ST ngày 18/9/2017) nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Tình tiết tăng nặng: không.
+ Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, kết hợp với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Minh N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về xử lý vật chứng:
- + 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số: 60F3-245.47 Cơ quan CSĐT Công an T đã trả lại cho anh N1 là đúng quy định.
- + Lưu hồ sơ 01 USB liên quan đến vụ án (bút lục 92).
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Lê Thanh S 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ 02-4-2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Lưu hồ sơ 01 USB liên quan đến vụ án (bút lục 92).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Lê Thanh S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phú |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán |
Bản án số 386/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 386/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh S có hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô
