Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 386/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nguyên

Bà Ngô Thị Thơm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 379/2024/HNGĐ-TLST ngày 15/7/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 439/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 304/2024/QĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H sinh ngày 25/10/1993.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Bùi Xá, xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Hiện ở: Đài Loan.

2. Bị đơn : Chị Trần Thị L, sinh ngày 28/3/1997.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Bùi Xá, xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Hiện ở: Đài Loan.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974.

Địa chỉ : Cụm F, thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương.

( Anh H, chị L, bà H1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị L tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 09/5/2016. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống cùng nhau khoảng 1 tháng thì anh sang Đài Loan lao động. Tháng 2/2022 chị L cũng sang Đài Loan lao động, tuy nhiên vợ chồng mỗi người ở một nơi, đến cuối tuần mới gặp nhau. Sau đó chị L có quan hệ với người đàn ông khác nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Khoảng 2 tháng sau thì vợ chồng sống ly thân, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.

Về quan hệ con chung: Anh và chị L có 01 con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/3/2019, hiện cháu được gia đình anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con, tự nguyện không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian anh không ở Việt Nam, anh tiếp tục ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H1 chăm sóc cháu Phương A.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị L không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Theo anh H trình bày, chị L hiện nay đang lao động tại Đài Loan, do anh H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị L, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của chị L thông qua gia đình. Ông Trần Đình X là bố đẻ chị L cung cấp: Chị L đang lao động tại Đài Loan, từ khi đi nước ngoài chị L chưa về Việt Nam lần nào, địa chỉ của chị L ở nước ngoài ông không biết, nhưng chị L thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị L biết. Tại buổi làm việc với Tòa án, chị L gọi điện thoại trực tiếp thể hiện quan điểm, xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trong quản lý kinh tế, không phải mâu thuẫn do chị ngoại tình như anh H trình bày, chị xác định không còn tình cảm, anh H có đơn ly hôn chị đồng ý. Về con chung: chị xác định cháu Nguyễn Phương A ở cùng ông bà nội từ nhỏ, nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con, trong thời gian chị chưa về Việt Nam chị ủy quyền cho bố mẹ đẻ của chị chăm sóc cháu Phương A và tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết, chị đề nghị được giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 có ý kiến trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh H, đầu tháng 6/2024 anh H có về Việt Nam thăm gia đình, đến tháng 7/2024 anh H tiếp tục sang Đài Loan làm việc và ủy quyền cho bà giao nhận giấy tờ và chăm sóc cháu Nguyễn Phương A. Bà đồng ý nhận ủy quyền của anh H, sau khi nhận văn bản tố tụng, bà đã thông tin cho anh H biết, anh H vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa anh H và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh H được ly hôn chị L. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/3/2019 cho anh Nguyễn Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh H không ở Việt Nam. Tạm giao cháu Phương A cho bà Nguyễn Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Anh H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị L đều có hộ khẩu thường trú tại: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương. Hiện chị L, anh H đang lao động ở nước ngoài. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, anh H không cung cấp được địa chỉ của chị L ở Đài Loan. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình chị L cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình chị L được biết, chị L thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông Trần Đình X là bố đẻ của chị L đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị L biết, thông qua gia đình chị L cũng có quan điểm, ý kiến đối với yêu cầu của anh H.

Do anh H ủy quyền cho mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương A nên Tòa án xác định bà Nguyễn Thị H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Anh H, chị L, bà H1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 09/5/2016, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong quản lý kinh tế, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn chị L. Quá trình giải quyết vụ án, chị L cũng có quan điểm xác định không còn tình cảm với anh H và chị đồng ý ly hôn với anh H. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh H và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H

- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị L có một con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/3/2019. Ly hôn anh H, chị L đều có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy, cháu Phương A đang sinh sống ổn định cùng ông bà nội, được ông bà chăm sóc và phát triển tốt. Anh H, chị L hiện đang lao động ở nước ngoài nên không có điều kiện trực tiếp để nuôi con. Bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ của anh H cũng có quan điểm đồng ý nuôi dưỡng cháu Phương A trong thời gian anh H không ở Việt Nam. Do vậy để ổn định cuộc sống cho cháu Phương A, cần tiếp tục giao cháu Phương A cho anh H nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Trần Thị L.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/3/2019 cho anh Nguyễn Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh H không ở Việt Nam. tạm giao cháu Phương A cho bà Nguyễn Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Chị Trần Thị L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000858 ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Bà Nguyễn Thị H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Nhân Quyền;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 386/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 386/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger