TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 386/2024/DS-PT
Ngày: 27-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất, quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
- Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
- Bà Trần Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 325/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024, về việc: “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 281/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1943; Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thành N, sinh năm 1989; Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1975;
- Địa chỉ: Số A, đường P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Âu Gia V, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số A, đường P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị C, sinh năm 1941; Địa chỉ: Số A, đường P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị Mỹ N1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Văn phòng C3; Địa chỉ: Số B, đường N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1961;
- Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1964;
- Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1966;
- Ông Nguyễn Minh Cao V1, sinh năm 1969;
- Ông Nguyễn Minh Cao Q, sinh năm 1969;
- Bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1972;
- Bà Trần Thị Mỹ N2, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp A, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D – Trưởng Văn phòng.
Cùng địa chỉ: Số A, đường P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M.
(Ông N, ông V, bà N1 có mặt; Bà N2, bà C, bà T1, ông H, bà L, ông V1, ông Q, bà T2, ông B có đơn đề nghị vắng mặt; Đại diện Văn phòng C3 vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Trần Thành N trình bày: Ông Nguyễn Văn M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Cụ thể, yêu cầu Tòa án tuyên:
- Vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 13727, quyển số 14/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19-4-2022 giữa bà Nguyễn Thị Thùy T với bà Trần Thị Mỹ N1 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Bích T3 đối với một phần thửa đất số 1244, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.131m², loại đất lúa, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 1106, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22-01-2015 giữa ông Nguyễn Minh C1, bà Phạm Thị C với bà Nguyễn Thị Thùy T tại Văn phòng C4, nay là Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Bích T3 đối với một phần thửa đất số 1244, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.131m², loại đất lúa, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Phần đất tranh chấp có vị trí tương ứng với Khu I và Khu H theo Mảnh trích đo địa chính số 07-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 28-3-2023. Yêu cầu xác định phần đất 1.131m² nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông M để ông M đi kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện phần đất này ông M cho ông Nguyễn Ngọc B để nuôi tôm (việc thuê đất không lập thành văn bản). Bị đơn cho rằng nguồn gốc phần đất này của ông Nguyễn Minh C1, ông C1 cho ông M sử dụng nuôi vịt, sau đó ông M tự ý đào ao nuôi tôm là không có cơ sở. Phần đất tranh chấp này ông M thực tế đã sử dụng từ trước năm 1975 đến nay, do ông M tự khai hoang. Quá trình sử dụng đất, ông M có đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng do thời điểm đăng ký cấp giấy không tiến hành đo đạc trên thực tế, ông M nghĩ rằng phần đất này ông đã được cấp quyền sử dụng đất chung với các thửa đất khác. Đến khoảng năm 2021, ông M thực hiện đo đạc, tách quyền sử dụng đất cho các con thì phát hiện phần đất đang tranh chấp do ông C1 đứng tên quyền sử dụng đất từ năm 1999, ông C1 được cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp. Đến năm 2015, ông Châu t cho con là bà Nguyễn Thị Thùy T phần đất mà ông M đang tranh chấp. Bà T được cấp quyền sử dụng đất vào năm 2015, nhưng thực tế không sử dụng đất. Bà T cũng không biết cụ thể ranh giới của thửa đất, thể hiện qua đường ranh đỏ, xanh mà các đương sự chỉ trên Mảnh trích đo địa chính, theo đó bà T chỉ ranh một phần thửa 1244, không chỉ tới phần đất đang tranh chấp. Sau khi hòa giải tranh chấp ở xã, ông M khởi kiện ra Tòa án, trong thời gian Tòa án đang thụ lý thì bà T lại chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N1, nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn chấp nhận cho bà T và bà N1 thực hiện thủ tục chuyển nhượng là không đúng quy định pháp luật vì đất đang có tranh chấp. Ông C1 đã không có quyền sử dụng đất nên không có quyền tặng cho bà T, bà T cũng không có quyền đối với phần đất tranh chấp này. Từ đó dẫn đến giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông C1 và bà T là vô hiệu; giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và bà N1 là vô hiệu, do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự, có nội dung vi phạm điều cấm của luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Âu Gia V trình bày: Bà Nguyễn Thị Thùy T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phần đất này có nguồn gốc của cha bà T là ông Nguyễn Minh C1. Quá trình sử dụng đất, ông C1 đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này. Trước đây ông C1 sử dụng trồng lúa, sau này lớn tuổi ông C1 về thành phố sống cùng các con. Trong quá trình sử dụng ông M có xin ông C1 cho chăn vịt trên phần đất này. Trong lúc ông C1 không có ở địa phương, ông M đào ao, lấn chiếm đất của ông C1, sử dụng nuôi tôm. Do lớn tuổi, không có nhu cầu sử dụng đất nên ông C1 đã tặng cho phần đất này cho con là bà Nguyễn Thị Thùy T. Bà T đã được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất hợp pháp đối với phần đất trên. Nguyên đơn không đủ căn cứ pháp lý để tranh chấp quyền sử dụng đất với bà T. Trong quá trình tiến hành đo đạc thửa đất, bà T đã chỉ đúng phần đất do gia đình đứng tên, trùm luôn phần đất tranh chấp và phần đất nghĩa địa, cho nên mới xác định được vị trí đất tranh chấp. Ông M khởi kiện yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông C1 và bà T, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và bà N1, với lý do phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông M. Tuy nhiên, ông M không cung cấp được chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của mình đối với phần đất tranh chấp. Hơn nữa, theo thủ tục cấp quyền sử dụng đất vào năm 1999, có tiến hành niêm yết công khai, ông M buộc phải biết phần đất này ông C1 đã được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp.
Ngoài ra, ông M không phải là một bên trong hợp đồng nên ông M không có quyền khởi kiện tranh chấp hợp đồng. Nếu cho rằng phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của ông M thì ông M phải kiện tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông M khởi kiện nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh quyền sử dụng hợp pháp đối với phần đất tranh chấp... cũng không đủ cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông M, cho nên bà Nguyễn Thị Thùy T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị Mỹ N1 trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà nhận chuyển nhượng đất hợp pháp từ bà Nguyễn Thị Thùy T. Hiện bà đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1244 nêu trên. Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên bà đã cầm cho bà Trần Thị Mỹ N2 ở xã P để vay số tiền 200.000.000 đồng, việc vay mượn không lập thành văn bản. Bà N1 xác định không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án này, sau khi có kết quả giải quyết vụ án này, căn cứ vào mức độ ảnh hưởng quyền lợi mà bà sẽ quyết định có khởi kiện bằng vụ án khác hay không.
Ông Nguyễn Ngọc B trình bày tại Bản tự khai ngày 15-3-2024 như sau: Ông có thuê phần đất thuộc thửa đất số 1244, Tờ bản đồ số 4, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An của ông Nguyễn Văn M để nuôi tôm. Thời hạn thuê là 03 năm từ tháng 02 năm 2022 đến tháng 02 năm 2025. Khi thuê đất, hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản. Ông xác định không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông.
Bà Trần Thị Mỹ N2 trình bày: Đầu năm 2023, bà có cho bà N1 vay số tiền là 200.000.000 đồng, không xác định thời hạn, bà N1 giao cho bà bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1244 để làm tin. Bà N1 cam kết, nếu sau này bà N1 không thanh toán được số tiền nêu trên, bà N1 sẽ chuyển phần đất đó sang cho bà đứng tên. Do chỗ chị em việc vay mượn này không lập văn bản. Hiện bà không có tranh chấp gì với bà N1 đối với khoản vay này, không có ý kiến tranh chấp gì trong vụ án này. Việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông M do bà N1 toàn quyền quyết định, bà không có ý kiến. Bà N2 đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà.
Bà Phạm Thị C, bà Nguyễn Thị Kim T2, ông Nguyễn Minh Cao Q, ông Nguyễn Minh Cao V1, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Nguyễn Minh H, bà Nguyễn Thị Kim T1 có văn bản trình bày về cùng nội dung như sau: Các ông bà là vợ và con của ông Nguyễn Minh C1 (đã chết ngày 08-8-2021). Thửa đất 1244, tờ bản đồ số 4, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An có nguồn gốc của ông bà để lại cho ông C1. Đến năm 2015, ông C1 lớn tuổi nên để lại cho bà Nguyễn Thị Thùy T đứng tên quyền sử dụng đất. Đến đầu năm 2022, bà T đã chuyển nhượng phần đất này cho người khác.
Ông Nguyễn Văn M và gia đình ông C1 không có họ hàng. Toàn bộ phần đất mà ông C1 đứng tên có nguồn gốc của ông bà để lại và canh tác từ năm 1975. Ông C1 lớn tuổi, các con đều lên thành phố sinh sống và làm việc nên ông C1 chuyển lên thành phố ở cùng các con, không trực tiếp sinh sống và canh tác đất, chỉ lâu lâu về thăm cũng như nhờ họ hàng ở gần trông chừng. Khoảng thời gian ông C1 còn sống, có người họ hàng gọi điện thoại lên báo là đất có người đào ao nuôi tôm. Do ông C1 lớn tuổi, bệnh nhiều, con cái bận công việc làm ăn nên gia đình không ai về và cũng có suy nghĩ là đất của mình, mình đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không ai chiếm được, khi cần sẽ yêu cầu trả lại. Việc ông M tự ý lấn chiếm đất của gia đình đào ao nuôi tôm vào thời gian nào thì gia đình không rõ và không biết.
Vào năm 2020, con ông M lên nhà ông C1 nói phần đất này Nhà nước cấp nhầm cho ông C1, ông C1 không đồng ý. Ông C1 nói lại trước đây có cho ông M chăn nuôi vịt nhờ trên phần đất này. Sau này ông C1 về lấy lại thì ông M năn nỉ cho ông tiếp tục chăn nuôi vịt nhờ trên đất vì khó khăn. Do gia đình chưa có nhu cầu sử dụng nên để ông M tiếp tục chăn nuôi vịt. Nay phía ông M cho rằng đất của ông M là không có căn cứ. Vì phần đất này có nguồn gốc của gia đình ông C1, gia đình ông C1 đã quản lý, sử dụng và được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông C1 chỉ cho ông M chăn nuôi vịt nhờ trên phần đất đó, nhưng sau này lợi dụng gia đình ông C1 không thường xuyên có mặt tại phần đất trên ông M đã lấn đất đào ao nuôi tôm và tranh chấp cho rằng đất của ông M. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông M, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tên trên không đồng ý, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông M, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt họ với lý do phần đất thửa 1244 vợ chồng ông C1 đã tặng cho toàn bộ cho bà Nguyễn Thị Thùy T nên bà T toàn quyền quyết định.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Văn M đối với bà Nguyễn Thị Thùy T về việc yêu cầu Tòa án tuyên:
- Vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 13727, quyển số 14/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19-4-2022 giữa bà Nguyễn Thị Thùy T với bà Trần Thị Mỹ N1 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Bích T3 đối với một phần thửa đất số 1244, Tờ bản đồ số 4, diện tích 1.131m², loại đất lúa, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 1106, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22-01-2015 giữa ông Nguyễn Minh C1, bà Phạm Thị C với bà Nguyễn Thị Thùy T tại Văn phòng C4, nay là Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Bích T3 đối với một phần thửa đất số 1244, Tờ bản đồ số 4, diện tích 1.131m², loại đất lúa, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Yêu cầu xác định phần đất 1.131m² nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông M để ông M đi kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vị trí, tứ cận của phần đất tranh chấp tương ứng với Khu I và Khu H theo Mảnh trích đo địa chính số 07-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 28-3-2023.
2. Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho ông Nguyễn Văn M 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0013009 ngày 15-02-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.
3. Về chi phí tố tụng khác là 19.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn M phải chịu toàn bộ, đã nộp xong.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Sau khi tuyên án, bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 23/5/2024, ông Nguyễn Văn M kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự đều xác nhận phần đất tranh chấp có vị trí tương ứng với Khu I và Khu H theo Mảnh trích đo địa chính số 07-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 28-3-2023.
Ông Trần Thành N trình bày: Diện tích đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn M quản lý, sử dụng từ trước năm 1975 đến nay do ông M tự khai hoang. Quá trình sử dụng, ông M trồng lúa, sau đó đào ao nuôi tôm. Quá trình sử dụng đất, ông M có đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng do thời điểm đăng ký cấp giấy không tiến hành đo đạc trên thực tế, ông M nghĩ rằng phần đất này ông đã được cấp quyền sử dụng đất chung với các thửa đất khác. Đến khoảng năm 2021, ông M thực hiện đo đạc, tách quyền sử dụng đất cho các con thì phát hiện phần đất đang tranh chấp do ông C1 đứng tên quyền sử dụng vào năm 1999, nhưng thực tế ông C1 không sử dụng mà ông M sử dụng. Đến năm 2015, ông C1 tặng quyền sử dụng đất cho con là bà Nguyễn Thị Thùy T có luôn phần đất mà ông M đang tranh chấp, sau đó bà T chuyển ngượng lại cho bà N1. Bị đơn cho rằng nguồn gốc phần đất này của ông Nguyễn Minh C1, ông C1 cho ông M sử dụng nuôi vịt, sau đó ông M tự ý đào ao nuôi tôm là không có cơ sở. Bà T cũng không biết cụ thể ranh giới của thửa đất, thể hiện qua đường ranh đỏ, xanh mà các đương sự chỉ trên Mảnh trích đo địa chính, theo đó bà T chỉ ranh một phần thửa 1244, không chỉ tới phần đất đang tranh chấp. Ông C1 đã không có quyền sử dụng đất nên không có quyền tặng cho bà T, bà T cũng không có quyền đối với phần đất tranh chấp này. Từ đó dẫn đến giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông C1 và bà T là vô hiệu; giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và bà N1 là vô hiệu, do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự, có nội dung vi phạm điều cấm của luật. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M.
Ông Âu Gia V trình bày: Trong quá trình tiến hành đo đạc thửa đất, bà T đã chỉ đúng phần đất do gia đình đứng tên, trùm luôn phần đất tranh chấp và phần đất nghĩa địa, cho nên mới xác định được vị trí đất tranh chấp. Ông M khởi kiện yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông C1 và bà T, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và bà N1, với lý do phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông M. Tuy nhiên, ông M không cung cấp được chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp và quá trình sử dụng đất của mình đối với phần đất tranh chấp. Ông C1 mới là người trực tiếp sử dụng từ năm 1975 đến 2015 mới về Thành phố sống; khi chuyển đất lại cho bà T thì bà T có đi đi về về, sau đó nghe người thân báo đất bị ai đó đào ao. Vì lúc này ông C1 bệnh, gia đình lo trị bệnh cho ông C1 nên chưa kiện đòi đất và dịch Covid bùng phát, ông C1 bị nhiễm dịch C2 và năm 2022, bà T chuyển nhượng đất cho bà N1 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của ông M.
Bà Trần Thị Mỹ N1 trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà nhận chuyển nhượng đất hợp pháp từ bà Nguyễn Thị Thùy T. Bà N1 xác định không có yêu cầu khởi kiện đòi ông B trả đất trong vụ án này, sau khi có kết quả giải quyết vụ án này, căn cứ vào mức độ ảnh hưởng quyền lợi mà bà sẽ quyết định có khởi kiện bằng vụ án khác hay không.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án. Người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều của Bộ luật tố tụng dân sự. Kháng cáo của ông M đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272, Điều 273, Bộ luật tố tụng dân sự, do đó đủ điều kiện xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Qua xem xét hồ sơ vụ án và kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, nhận thấy:
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 1244:
Theo bà T, thửa 1244 có nguồn gốc của ông bà để lại cho ông Nguyễn Minh C1 là cha bà T, trước đây ông C1 có sử dụng phần đất này để trồng lúa nhưng sau đó do lớn tuổi nên ông chuyển về thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và để trống phần đất này, ông M có xin ông C1 cho chăn vịt trên đất và sau đó tự ý đào ao, lấn chiếm đất của ông C1 để nuôi tôm. Ông M cho rằng ông sử dụng phần đất tranh chấp từ trước năm 1975, ông sử dụng phần đất tranh chấp để đào ao nuôi tôm cách đây hơn 15 năm và nuôi tôm được vài năm thì ông cho người khác thuê lại nuôi tôm, cho đến năm 2020 khi làm thủ tục tách đất cho các con (một phần thửa 1113) thì phát hiện một phần đất mà ông đang sử dụng thuộc thửa 1244 (khu H diện tích 26m² và khu I diện tích 1.105m², loại đất LUC) đã cấp quyền sử dụng đất cho ông C1 và sau đó ông Châu t cho bà T và bà T đã chuyển nhượng thửa 1244 lại cho bà N1.
Theo bà N1, khi nhận chuyển nhượng đất bà có đến xem và thấy trên đất có ao nhưng không thấy ai khác sử dụng, do bà chưa có nhu cầu và điều kiện sử dụng trực tiếp nên không yêu cầu người đang sử dụng trả lại đất và đồng ý cho người đang nuôi tôm tiếp tục sử dụng phần đất này cho đến khi bà có nhu cầu sử dụng. Vì thực tế sử dụng đất tại xã P bà thấy có nhiều trường hợp người ở thành phố đứng tên quyền sử dụng đất nhưng do người khác sử dụng nên bà cũng không thắc mắc gì khi nhận chuyển nhượng phần đất này.
Những người làm chứng ông Phạm Phú L1 và ông Phạm Văn B1 trình bày: các ông ở gần phần đất tranh chấp giữa ông M và bà T, biết nguyên dãy đất ở khu tranh chấp là của ông M và ông C1 (cha bà T) sử dụng trước đây, quá trình sử dụng đất phía ông M có đào ao nuôi tôm nhưng ranh giới cũng như phần đất tranh chấp thuộc của ai thì các ông không biết.
Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Ngày 20/7/1999 ông Nguyễn Minh C1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 371/QĐ-UB ngày 20-7-1999 05 thửa đất 1244 diện tích 1.875m², 998, 999, 1000, 1009. Cùng ngày ông Nguyễn Văn M cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa 1113 diện tích 3.562m², 732, 733, 734 và 17. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện có việc đo đạc, ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất liền kề.
Ngày 22/01/2015, vợ chồng ông Nguyễn Minh C1, bà Phạm Thị C lập Hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng các thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Thùy T (trong đó có thửa 1244), thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất thực hiện thông qua trích lục bản đồ địa chính, không đo đạc, ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất liền kề. Bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/02/2015. Ngày 19/4/2022, bà T lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 1244 cho bà Trần Thị M1 và bà N1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 08/01/2020, vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Đặng Thị H2 lập Hợp đồng tặng cho con là bà Nguyễn Thị N3 và bà Nguyễn Thị Kim L2 mỗi người 1.000m² thuộc một phần thửa 1113 (số thửa mới là 2161 và 2162). Việc tặng cho này có tiến hành đo đạc thực tế thông qua Mảnh trích đo địa chính số 175-2019, có ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất liền kề, trong đó phần đất của bà N3 phía Bắc thửa đất giáp với thửa 1244 và người ký giáp ranh đất là ông M trong khi người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bà T. Theo ông M thì lúc này ông mới biết phần đất tranh chấp ông sử dụng do ông C1 sau đó là bà T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét thấy, hai thửa đất giáp ranh liền kề là thửa 1113 và 1244 của ông M, ông C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng thời điểm năm 1999, không ký giáp ranh và đo đạc thực tế, phần đất diện tích 1.131m² thuộc một phần thửa 1244 ông M đã sử dụng đào ao nuôi tôm lúc ông C1 còn sống, ông C1 biết nhưng không có tranh chấp gì và sau này là con ông C1 là bà T cũng như người nhận chuyển nhượng sau cùng là bà N1 cũng không có yêu cầu hay tranh chấp gì đối với việc ông M sử dụng phần đất trên nên có cơ sở xác định ông M là người sử dụng đất thực tế phần đất tranh chấp từ trước đến nay nhưng Ủy ban nhân dân huyện C lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C1 và sau đó ông Châu t cho bà T, bà T chuyển nhượng cho bà N1 là cấp đất không đúng đối tượng sử dụng. Do đó, ông M yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.131m² thuộc quyền sử dụng của ông, vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng ngày 19/4/2022 giữa bà T với bà Trần Thị Mỹ N1, vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho ngày 22-01-2015 giữa ông Nguyễn Minh C1, bà Phạm Thị C với bà T là có căn cứ, kháng cáo của ông M có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn M đảm bảo đúng các nội dung quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Mỹ N2, bà Phạm Thị C, bà Nguyễn Thị Kim T1, ông Nguyễn Minh H, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Nguyễn Minh Cao V1, ông Nguyễn Minh Cao Q, bà Nguyễn Thị Kim T2, ông Nguyễn Ngọc B có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Đại diện Văn phòng C3 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[4] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn M thấy rằng:
[4.1] Về vị trí phần đất tranh chấp: Các đương sự thừa nhận, theo Mảnh trích đo địa chính số 07-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 28-3-2023, phần đất tranh chấp có diện tích là 1.131m² thuộc một phần thửa đất số 1244, Tờ bản đồ số 4, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An có vị trí tương ứng với Khu I và Khu H theo Mảnh trích đo. Trong đó, vị trí H có diện tích là 26m², vị trí I có diện tích là 1.105m². Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4.2] Về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa đất số 1244, Tờ bản đồ số 4, diện tích 1.875m², đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh C1 theo Quyết định số 371/QĐ-UB ngày 20-7-1999 cùng với 04 thửa đất khác là 998, 999, 1000, 1009. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện có việc đo đạc, ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất liền kề.
Ngày 22-01-2015, ông Nguyễn Minh C1 cùng vợ là bà Phạm Thị C lập thủ tục tặng cho toàn bộ quyền sử dụng các thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Thùy T, trong đó có thửa đất số 1244, thông qua Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 22-01-2015 được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T3, số công chứng 1106, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngày 19-4-2022, bà Nguyễn Thị Thùy T chuyển nhượng thửa đất số 1244 nêu trên cho bà Trần Thị Mỹ N1 thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19-4-2022, được công chứng tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Bích T3, số công chứng 13727, quyển số 14/2022TP/CC-SCC/HĐGD.
Theo hồ sơ cấp quyền sử dụng đất thửa 1113 thể hiện, thửa 1113 có diện tích 3.562m², tờ bản đồ số 4 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn M vào ngày 20-7-1999, cùng với các thửa đất khác gồm các thửa 732, 733, 734 và 17.
Ngày 08-01-2020, ông Nguyễn Văn M tặng cho quyền sử dụng đất một phần thửa 1113, số thửa mới là 2161, diện tích 1.000m² cho con là bà Nguyễn Thị N3 và tặng cho con là bà Nguyễn Thị Kim L2 một phần thửa đất số 1113 (số thửa mới là 2162), có diện tích 1.000m². Thủ tục tặng cho thửa đất này có tiến hành đo đạc thực tế thông qua Mảnh trích đo địa chính số 175-2019, có ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất liền kề.
Qua đó thấy rằng, cùng thời điểm vào năm 1999, ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Minh C1 đều được cấp quyền sử dụng đất theo Quyết định số 371/QĐ.UB ngày 20/7/1999 với các hộ nông dân, trong đó có hai thửa giáp ranh liền kề là thửa 1113 (ông M) và 1244 (ông C1). Việc cấp quyền sử dụng đất thời điểm này dựa trên cơ sở kê khai, đăng ký của chủ sử dụng đất, không tiến hành đo đạc thực tế. Tuy nhiên tại Biên bản Hợp xét cấp giấy quyền sử dụng đất của Hội đồng xét cấp giấy quyền sử dụng đất của Ủy Ban nhân dân xã P, huyện C (BL100) thể hiện Hội đồng xét cấp giấy quyền sử dụng đất của Ủy Ban nhân dân xã P đã xét từng đơn, xem lại thửa đất, diện tích có đủ điều kiện để đề nghị cấp quyền sử dụng đất và có niêm yết danh sách những người được cấp (BL99). Đến năm 2022, ông M thực hiện thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho các con, mới có việc tiến hành đo đạc và xác định ranh giới với các thửa đất liền kề thì cho rằng đất ông M sử dụng nhưng cấp cho ông C1 và ông C1 cũng không khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 371/QĐ.UB ngày 20/7/1999 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An đối với diện tích đất tranh chấp.
[4.3] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Ông Nguyễn Văn M và người đại diện của ông M cho rằng phần đất tranh chấp nêu trên ông M sử dụng từ năm 1975 nhưng ông M không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông M là người sử dụng ổn định lâu dài mà chỉ là lời trình bày một phía của ông M, không được phía ông C1 thừa nhận. Những người làm chứng là ông Phạm Phú L1 và ông Phạm Văn B1 trình bày: các ông ở gần phần đất tranh chấp giữa ông M và bà T, biết nguyên dãy đất ở khu tranh chấp là của ông M và ông C1 (cha bà T) sử dụng trước đây, quá trình sử dụng đất phía ông M có đào ao nuôi tôm nhưng ranh giới cũng như phần đất tranh chấp thuộc của ai thì các ông không biết.
Ông C1, bà T, bà N1 đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với phần đất thuộc thửa 1244, trong đó có phần đất tranh chấp. Bà Nguyễn Thị Thùy T cho rằng, phần đất thuộc thửa 1244 có nguồn gốc của ông bà để lại, ông Nguyễn Minh C1 sử dụng phần đất này trồng lúa ổn định từ năm 1975. Sau đó, ông C1 chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Do ông C1 lớn tuổi nên tặng cho lại bà T. Việc ông C1, bà T trình bày là người liên tục sử dụng đất thửa 1244 (có phần H, I) là hoàn toàn phù hợp với Đơn xin xác nhận ngày 27/01/2015 của bà T trong đó thể hiện ông C1 và bà T là người trực tiếp sử dụng, sản xuất các thửa đất 998, 999,1000,1009 và 1244, tờ bản đồ số 4, tổng diện tích 10174m² và Đơn xin xác nhận này được Ủy Ban nhân dân xã P, huyện C xác nhận (BL91). Như vậy lời trình bày của bà T và người đại diện theo ủy quyền của bà T về quá trình sử dụng thửa đất số 1244 kể cả phần tranh chấp là có căn cứ. Ông M và ông C1 được cấp quyền sử dụng đất cùng thời điểm, mỗi người đứng tên quyền sử dụng đất các thửa đất riêng biệt, không có căn cứ xác định có sự việc cấp nhầm phần đất của ông M sang cho ông C1.
Từ nhận định tại mục [4.2] và [4.3] xác định Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 22-01-2015 giữa ông Nguyễn Minh C1, bà Phạm Thị C với bà Nguyễn Thị Thùy T; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Thùy T với bà Trần Thị Mỹ N1 ngày 19-4-2022 đối với thửa đất số 1244 có hình thức và nội dung phù hợp quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M là có căn cứ pháp luật. Ông Nguyễn Văn M kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không chấp nhận kháng cáo của ông M, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc. Các nội dung khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành. Phát biểu của Kiểm sát viên không trùng với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn tạm ứng án phí theo điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Căn cứ Khoản 3, Khoản 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; các điều 95, 166, 170, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Văn M đối với bà Nguyễn Thị Thùy T về việc yêu cầu Tòa án tuyên:
- Vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 13727, quyển số 14/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19-4-2022 giữa bà Nguyễn Thị Thùy T với bà Trần Thị Mỹ N1 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Bích T3 đối với một phần thửa đất số 1244, Tờ bản đồ số 4, diện tích 1.131m², loại đất lúa, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 1106, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22-01-2015 giữa ông Nguyễn Minh C1, bà Phạm Thị C với bà Nguyễn Thị Thùy T tại Văn phòng C4, nay là Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Bích T3 đối với một phần thửa đất số 1244, Tờ bản đồ số 4, diện tích 1.131m², loại đất lúa, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Yêu cầu xác định phần đất 1.131m² nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn M để ông M đi kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vị trí, tứ cận của phần đất tranh chấp tương ứng với Khu I và Khu H theo Mảnh trích đo địa chính số 07-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C, tỉnh Long An duyệt ngày 28-3-2023.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho ông Nguyễn Văn M 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0013009 ngày 15-02-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Về chi phí tố tụng khác là 19.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn M phải chịu toàn bộ, đã nộp xong.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M được miễn.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hữu Nghĩa |
Bản án số 386/2024/DS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất
- Số bản án: 386/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M