Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 386/2024/HSST

Ngày 10-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU,

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sỹ Tiến

Ông Lê Văn Khoe

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 380/2024/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 430/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1976 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: 25/30 đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Nhân viên Công ty cổ phần Đ; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ tên Trần Thị Huỳnh M, sinh năm 1977; có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2005;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 30 tháng 3 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).

* Bị hại: Công ty cổ phần Đ; Địa chỉ: A đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T3 – Tổng Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thái H, sinh năm 1986 – trưởng phòng pháp chế của Công ty. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/8/2018, Công ty cổ phần Đ (gọi tắt: Công ty Đ; Địa chỉ: A đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) đã ký kết Hợp đồng lao động với Nguyễn Văn Q, theo đó Q được Công ty phân công công việc là nhân viên lái xe. Quá trình làm việc từ ngày 01/09/2022, Q được công ty giao trách nhiệm giám sát vận hành kho hàng - Chi nhánh V (địa chỉ: A đường C, Phường A, thành phố V) với chức danh: Trưởng nhóm vận hành kho hàng – Chi nhánh V. Nhiệm vụ cụ thể của Q là: kiểm soát báo cáo công tác vận hành luân chuyển hàng hóa tại kho nơi được phân công phụ trách; trực tiếp thực hiện kiểm soát, nhận hàng, giao hàng, thu tiền hộ (COD – hình thức giao hàng mà đơn vị giao hàng sẽ thu tiền của khách hàng khi giao hàng thành công); giám sát việc chấp hành nộp tiền thu hộ (COD) của nhân viên dưới quyền và xử lý các tình huống phát sinh khác theo phân công của giám đốc chi nhánh... Q có trách nhiệm nộp lại số tiền đã thu được từ khách hàng cho Công ty Đ.

Từ ngày 01/3/2024 đến ngày 29/3/2024, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được phân công, Nguyễn Văn Q đã lấy 19 (mười chín) đơn hàng của Công ty đi giao cho khách hàng và nhận thanh toán từ khách hàng với tổng số tiền là 206.342.938 đồng nhưng không nộp lại số tiền thu được từ khách hàng cho Công ty Đ theo quy định mà tự ý chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên sử dụng hết vào mục đích cá nhân của Q. Q che giấu hành vi chiếm đoạt số tiền hàng của Công ty Đ bằng cách sử dụng máy tính công ty, đăng nhập tài khoản quản lý của cá nhân được công ty cấp mã để thao tác cập nhật trạng thái của 19 (mười chín) đơn hàng từ đã xuất kho, giao và thu tiền của khách hàng thành công, thành 19 (mười chín) đơn hàng đã nhập lại kho vì giao hàng không thành công (có nghĩa là chưa giao hàng thành công, chưa nhận được tiền thanh toán của khách hàng). Cụ thể thông tin các đơn hàng và số tiền chiếm đoạt như sau:

STT SỐ VẬN ĐƠN SỐ DO NGÀY GỬI NGÀY THỰC HIỆN SỐ TIỀN CHIẾM ĐOẠT (đồng)
01BO673200248CP68129043013/3/202429/3/20249.156.470
02BO681759896CP69105016224/3/202429/3/20248.571.968
03NTX179994013E1118819869118/3/202429/3/20245.150.000
04HN227086178HUNG19030919/3/202429/3/202428.200.000
05BO677317984CP68619882619/3/202428/3/202415.840.000
06BO677908796CP67311206019/3/202428/3/20249.340.000
07BO678863624CP68834964820/3/202428/3/20249.300.000
08NTX180258947X3818847465822/3/202429/3/202411.500.000
09BO681655259CP69028382023/3/202429/3/20243.015.000
10KT134356747TK24032339238750-288890425/3/202429/3/20242.515.000
11NTX180424774X0718869723925/3/202429/3/20242.091.500
12BO682628523CP69199284825/3/202429/3/20242.400.000
13NTX180485628X4718867856526/3/202429/3/20249.523.000
14BO683454430CP69294544926/3/202429/3/20249.540.000
15BO683749582CP69321797527/3/202429/3/20247.714.000
16BO683750839CP69322266627/3/202429/3/20243.486.000
17BO670005284CP67835189809/3/202429/3/202450.000.000
18BO676329059CP68533698418/3/202425/3/20247.000.000
19BCGLI103578666Không20/3/202429/3/202412.000.000
Tổng cộng206.342.938

Ngày 29/3/2024, Công ty Đ - Chi nhánh V tiến hành kiểm tra số lượng đơn hàng còn tồn trong kho và trên ứng dụng quản lý đơn giao nhận hàng thì phát hiện thiếu một số đơn hàng. Sau khi phát hiện hành vi sai phạm, Công ty Đ đã tiến hành làm việc với Nguyễn Văn Q và tố giác tới cơ quan Công an.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của Q (bút lục điều tra từ số 95 đến số 119) phù hợp với lời khai đại diện theo ủy quyền của Công ty Đ – Chi nhánh V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Công ty Đ yêu cầu Nguyễn Văn Q bồi thường cho Công ty số tiền 206.342.938 đồng đã chiếm đoạt.

Bản cáo trạng số 366/CT-VKSTPVT ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Tham ô tài sản” quy định tại các điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” quy định tại các điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Phía Công ty Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 206.342.938 đồng đã chiếm đoạt của công ty; bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền trên nên ghi nhận. Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty Đ số tiền 206.342.938 đồng.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố V và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Năm 2018, Nguyễn Văn Q ký Hợp đồng lao động với Công ty cổ phần Đ. Từ ngày 01/09/2022, Q được Công ty phân công công việc giám sát vận hành kho hàng - Chi nhánh V (địa chỉ: A đường C, Phường A, thành phố V) với chức danh: Trưởng nhóm vận hành kho hàng – Chi nhánh V. Trong thời gian làm việc từ ngày 01/3/2024 đến ngày 29/3/2024, Q đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được phân công, nhiều lần lấy các đơn hàng của Công ty đi giao và nhận tiền thanh toán từ khách hàng nhưng không nộp số tiền giao hàng về Công ty theo quy định mà chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân. Q che giấu việc chiếm đoạt tiền của công ty bằng cách đăng nhập vào tài khoản quản lý được Công ty cấp mã, thao tác thay đổi trạng thái của 19 (mười chín) đơn hàng trên hệ thống từ xuất kho thành đã nhập lại kho (chưa giao hàng thành công, chưa thanh toán). Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Văn Q đã chiếm đoạt đối với 19 (mười chín) đơn hàng của Công ty cổ phần Đ là 206.342.938 đồng.

Hành vi bị cáo Nguyễn Văn Q đã thực hiện như trên đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” quy định tại các điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo:

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý; bị cáo là người hiểu biết và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp để đạt được mục đích. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Do đó cần thiết xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Công ty cổ phần Đ yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Q bồi thường cho Công ty số tiền 206.342.938 đồng đã chiếm đoạt, bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận: Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty cổ phần Đ số tiền 206.342.938 đồng.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp số tiền là 10.317.146 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 08 (tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty cổ phần Đ số tiền 206.342.938đ (hai trăm lẻ sáu triệu, ba trăm bốn mươi hai ngàn, chín trăm ba mươi tám đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và nộp 10.317.146đ (mười triệu, ba trăm mười bảy ngàn, một trăm bốn mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06, PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND TP. Vũng Tàu;
  • - Công an TP. Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự TP. Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Vũng Tàu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 386/2024/HSST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tham ô tài sản

  • Số bản án: 386/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Văn Q 08 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger