|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:386/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/11/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng.
Ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 301/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 152/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1979.
- Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1976.
Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.
Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.
(Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn H, sinh năm 1976, thường trú tại: thôn Đ, xã A, huyện M, Tp Hà Nội lấy nhau có tìm hiểu, tự nguyện và về chung sống với nhau từ năm 2005 nhưng đến ngày 11/7/2019 mới đến UBND xã A đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến tháng 03/2023 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm, bất đồng trong quan điểm, lối sống, anh H rượu chè chơi bời, không chăm lo hạnh phúc gia đình, anh H còn có hành vi bạo lực đánh đập chị. Chị cũng đã tìm nhiều biện pháp để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 03/2024 đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, chị xin ly hôn anh Lê Văn H.
- Về con chung: Chị và anh Lê Văn H có 02 con chung là cháu Lê Phương T, sinh ngày 15/9/2006 và cháu Lê Hải N, sinh ngày 16/01/2009. Hiện nay cháu T đã trưởng thành, tự lập, có gia đình riêng nên chị không có yêu cầu xem xét. Còn cháu N từ khi ly vợ chồng sống ly thân cháu ở với chị. Nay ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Văn H đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H đều vắng mặt, không có văn bản trình bày quan điểm, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2024, bà Đặng Thị Đ (là mẹ đẻ của anh Lê Văn H) trình bày: Anh Lê Văn H và chị Nguyễn Thị M kết hôn năm 2005 nhưng đến năm 2019 mới đi đăng ký kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp nhau, anh H thường xuyên rượu chè say sỉn rồi chửi bới vợ con, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình. Gia đình đã khuyên bảo anh H sửa đổi tính nết để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị M xin ly hôn thì anh H đã biết và bản thân anh H không đến Tòa án làm việc được do bận đi làm. Về con chung: Anh H và chị M có 02 con chung là cháu Lê Phương T, sinh ngày 15/9/2006 và cháu Lê Hải N, sinh ngày 16/01/2009. Hiện nay cháu T đã trưởng thành, tự lập, có gia đình riêng. Còn cháu N đi ở với chị M; về tài sản chung và nợ chung thì vợ chồng anh H và chị M không có gì.
Tại Biên bản xác minh ngày 30/10/2024, tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, thành phố Hà Nội thể hiện: Anh Lê Văn H và chị Nguyễn Thị M có đăng ký kết hôn số 37 ngày 11/7/2019 tại UBND xã A. Hiện nay đời sống chung vợ chồng giữa anh H và chị M xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã, mục đích hôn nhân không đạt được. Địa phương đã nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân, chị M không còn sinh sống cùng nhà anh H tại địa phương. Anh Lê Văn H và chị Nguyễn Thị M có 02 con chung là cháu Lê Phương T, sinh ngày 15/9/2006 và cháu Lê Hải N, sinh ngày 16/01/2009. Hiện nay cháu T đã trưởng thành, tự lập, có gia đình riêng. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu N đã chuyển đi ở nơi khác cùng với chị M. Quan điểm của địa phương: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôn nay, bị đơn mặc dù được Tòa án nhiều lần giao các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, không đến làm việc, nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M, xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Lê Văn H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Phương T, sinh ngày 15/9/2006 và cháu Lê Hải N, sinh ngày 16/01/2009. Cháu T đã thành niên, tự lập và có cuộc sống riêng nên không xem xét việc nuôi dưỡng, Còn cháu N chưa thành niên nên cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị M về việc không yêu cầu anh Lê Văn H cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.
- Tài sản chung và nợ chung: do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị M phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Lê Văn H nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Văn H có hộ khẩu tại: thôn Đ, xã A, huyện M, Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị M và anh Lê Văn H được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện, vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2005 nhưng đến 11/7/2019 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện M nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Văn H vắng mặt, thông qua mẹ đẻ của anh H là bà Đặng Thị Đ xác định anh H có quan điểm không đến Tòa án làm việc vì bận công việc. Bà Đ cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị M là do anh H thường xuyên rượu chè và chửi bới vợ con nên vợ chồng đã sống lý thân mỗi người một nơi. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Lê Văn H không có mặt tại Tòa án để có quan điểm về việc chị Nguyễn Thị M xin ly hôn với anh. Việc này chứng tỏ anh H không quan tâm đến cuộc sống chung và hạnh phúc vợ chồng. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh H đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị M và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Lê Văn H có 02 con chung Lê Phương T, sinh ngày 15/9/2006 và Lê Hải N, sinh ngày 16/01/2009. Cháu T đã trưởng thành, tự lập, có gia đình riêng nên không xem xét việc nuôi dưỡng; còn cháu N chưa thành niên khoẻ mạnh hiện nay đang ở với chị M.
Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Lê Hải N của chị M, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi chị M và anh H ly thân đến nay, cháu N do chị M nuôi dưỡng, học tập ổn định và phát triển bình thường. Đồng thời, bản thân cháu N cũng có đơn đề nghị với nguyện vọng xin được tiếp tục ở với chị M. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung nên cần thiết chấp nhận yêu cầu của chị M và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó giao cháu Lê Hải N cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác nhận không có và không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5]. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị M đối với anh Lê Văn H.
- Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị M và anh Lê Văn H có 02 con chung Lê Phương T, sinh ngày 15/9/2006 và Lê Hải N, sinh ngày 16/01/2009. Cháu T đã trưởng thành, tự lập, có gia đình riêng nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008049 ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị M và bị đơn anh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Lê Văn H.
Giao con chung Lê Hải N, sinh ngày 16/01/2009 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H đến khi có quyết định thay đổi khác.
Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Cường |
Bản án số 386/2024/HNGĐ-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 386/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
