Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 386/2024/DS-PT

Ngày: 17-9-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán:

Bà Bùi Thị Phương Loan

Bà Hoàng Thị Hải Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 282/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 178/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1969 (có mặt).
  • Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1973 (có mặt).
  • Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • - Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:

Nguồn gốc phần đất của ông và bà N quản lý, sử dụng hiện nay là của bà ngoại ông là bà Bùi Thị X đứng tên quyền sử dụng đất. Ông sống chung với bà X từ nhỏ đến năm 1990, khi ông cưới vợ, bà X có cho ông một phần đất để cất nhà ở cặp bên nhà ngoại ông. Năm 2006, bà ngoại ông chết không để lại di chúc. Sau đó, mẹ ông là bà Nguyễn Thị T cùng các dì của ông tiến hành họp gia đình, theo đó, mẹ và các dì phân chia cho ông phần đất chiều ngang mặt tiền 14,7m, chiều ngang mặt hậu 14m, chiều dài 72m; phần còn lại do bà Nguyễn Thị N em ruột của ông được hưởng, đồng thời giao bà N đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó bà N có trách nhiệm tách quyền sử dụng đất ra cho ông. Tuy nhiên, sau khi bà N đứng tên quyền sử dụng đất thì nhiều lần ông yêu cầu bà N tách quyền sử dụng đất ra cho ông nhưng bà N vẫn không chịu tách. Trong biên bản họp gia đình ngày 18/4/2022 và biên bản hòa giải của UBND xã K ngày 09/6/2023, bà N vẫn thống nhất tách quyền sử dụng đất ra cho ông nhưng đến nay bà N vẫn không chịu tách.

Từ nội dung trên, ông yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, buộc bà Nguyễn Thị N giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ông đăng ký làm thủ tục tách quyền sử dụng phần đất hiện nay ông đang quản lý sử dụng có tổng diện tích 833,8m² theo bản vẽ hiện trạng ngày 12/01/2024 của Công ty TNHH MTV T1.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm phía bị đơn là bà Nguyễn Thị N vắng mặt không rõ lý do.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 178/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B – buộc bà Nguyễn Thị N phải giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 201413 ngày 02/11/1991 cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh phần đất có tổng diện tích 833,8m² cho ông Nguyễn Văn B được tiếp tục quản lý, sử dụng thuộc một phần thửa đất số 277, tờ bản đồ 06 (bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2023) mang tên Nguyễn Thị N, phần đất tọa lạc tại ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, có kích thước chiều ngang mặt lộ 14,56m (ký hiệu M3-M4); chiều ngang mặt hậu giáp phần đất còn lại của bà N 13,00m (ký hiệu M1-M2); chiều dài cạnh hướng Đông giáp phần đất còn lại của bà N 59,57m (ký hiệu M2-M3); chiều dài cạnh hướng Tây giáp phần đất của ông Phạm Văn H 63,39m (ký hiệu M1-M4).

Buộc bà Nguyễn Thị N phải hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 400.000đ và chi phí đo đạc 7.232.000đ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 bị đơn bà Nguyễn Thị N kháng cáo với nội dung: Không đồng ý với Bản án dân sự sơ thẩm số 178/2024/DS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn B phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chổ 400.000 đồng và chi phí đo đạc 7.232.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự, huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị đơn bà Nguyễn Thị N xác định không có tranh chấp quyền sử dụng đất. Phần diện tích đất mà ông B đang quản lý sử dụng theo bản vẽ hiện trạng là của ông B. Bà N thống nhất tách quyền sử dụng đất theo đúng diện tích đã đo vẽ theo bản vẽ hiện trạng.

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B cũng thừa nhận trình bày của bà N là đúng và diện tích đất ông yêu cầu theo bản vẽ hiện trạng thực tế từ trước đến hiện nay là do ông trực tiếp quản lý sử dụng. Ông và bà N không có xảy ra tranh chấp quyền sử dụng đất mà ông chỉ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho ông để làm căn cứ tách quyền sử dụng đất.

Như vậy giữa hai bên đương sự không phát sinh tranh chấp. Do đó ông Nguyễn Văn B có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất theo đúng diện tích đất đã được đo vẽ.

[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Giữa các bên đương sự là ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị N không tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất nên không phát sinh vụ án. Tuy nhiên cấp sơ thẩm thụ lý bằng vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là không đúng với bản chất vụ việc. Căn cứ theo Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án đã nêu rõ là “Tranh chấp”. Trong khi đó giữa nguyên đơn và bị đơn không phát sinh tranh chấp mà nguyên đơn chỉ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất do chính nguyên đơn đang quản lý sử dụng.

Do đó không có căn cứ xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn B và có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị N.

[3] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét cần thiết phải huỷ Bản án sơ thẩm dân sự số: 178/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và đình chỉ giải quyết vụ án.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5] Về chi phí đo đạc, thẩm định: Ông Nguyễn Văn B phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 400.000 đồng và chi phí đo đạc 7.232.000 đồng (ông B đã nộp và thanh lý xong hợp đồng).

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và bị đơn bà Nguyễn Thị N đã dự nộp tạm ứng án phí được trả lại theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 218, Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Huỷ Bản án sơ thẩm dân sự số: 178/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và đình chỉ giải quyết vụ án.
  2. Về chi phí đo đạc, thẩm định: Ông Nguyễn Văn B phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 400.000 đồng và chi phí đo đạc 7.232.000 đồng (ông B đã nộp và thanh lý xong hợp đồng).
  3. Về án phí:
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí. Ngày 11 tháng 7 năm 2023, ông B đã nộp tạm ứng án phí 1.000.000 đồng theo biên lai thu số 0007086 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.

    Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N không phải chịu. Ngày 15/7/2024 bà N đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005310 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 386/2024/DS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 386/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger