|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 386/2024/DS-PT Ngày: 06/5/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quy
Các Thẩm phán:
- 1/ Bà Lê Thị Ngọc Hương
- 2/ Bà Phạm Thị Kim
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 268/2024/DSPT ngày 15 tháng 3 năm 2024 về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1465/2024/QĐ -PT ngày 21 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc T, sinh năm 1955 (có mặt)
Thường trú: B P, phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ tạm trú: C L, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1.
Địa chỉ trụ sở chính: 567-569 C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn là: ông Dương H, sinh năm 1979; Địa chỉ: 8 N, Phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
3.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1958
3.2. Bà Trần Thanh M, sinh năm 1968
3.3. Nguyễn Trần Bảo N, sinh năm 2007
Cùng cư trú: E C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của trẻ Nguyễn Trần Bảo N, sinh năm 2007 là: ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1958 và bà Trần Thanh M, sinh năm 1968; Cùng cư trú: E C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn M1 và bà Trần Thanh M là ông Dương H, sinh năm 1979; Địa chỉ: 8 N, Phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
4. Người kháng cáo: Bà Trần Thanh M - Chủ doanh nghiệp Tư nhân K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo Đơn khởi kiện, lời khai tại biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Ngọc T trình bày:
Bà Lê Ngọc T và bà Trần Thanh M là bạn bè cùng quê, gia đình hai bên rất thân thiết, vì vậy bà tin tưởng bà M khi bà M cần tiền làm ăn thì bà cho bà M vay tiền theo yêu cầu của bà M, mỗi lần cho bà M vay tiền thì bà đến doanh nghiệp của bà M giao tiền mặt cho bà M, thực hiện việc giao nhận tiền tại địa chỉ số E C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; tính đến nay bà M còn nợ bà số tiền 20.600.000.000 đồng (hai mươi tỷ, sáu trăm triệu đồng), hai bên thỏa thuận tiền lãi là 1.5%/ tháng, từ tháng 08/2023 đến nay bà M không trả tiền lãi cho bà nữa và cũng không trả tiền gốc, bà đã nhiều lần điện thoại và đến nhà bà M để yêu cầu bà M trả nợ nhưng bà M cứ hứa hết lần này đến lần khác, hẹn bán được nhà đất thì trả cho tôi nhưng đến nay vẫn chưa trả nợ.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 trả cho bà Lê Ngọc T số tiền 20.600.000.000 đồng (hai mươi tỷ sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi từ ngày 01/9/2023 tạm tính đến ngày 16/10/2023 theo lãi suất 1.5%/ tháng là 463.500.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 21.063.500.000 đồng, tiền lãi sẽ tiếp tục tính kể từ ngày 17/10/2023 cho đến khi bị đơn trả hết nợ. Trả một lần ngay khi Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2/ Theo lời khai tại bản tự khai ngày 30/10/2023 và ngày 31/10/2023, biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Vào năm 2016 bà và nguyên đơn - bà Lê Ngọc T có đưa cho bà vay tiền để tiêu xài, số tiền vay của nguyên đơn được đưa nhiều lần, số tiền các lần không giống nhau, mỗi lần vay tiền hai bên viết giấy tay, ký nhận, sau nhiều đợt nguyên đơn yêu cầu gom lại và đổi giấy để ghi số tiền tổng của khoản vay đã đưa trong một thời gian nhất định, do tiền vay giao nhận nhiều đợt, đổi giấy vay nhiều lần thực hiện trong thời gian dài nên đến nay bà không nhớ chính xác số tiền vay còn nợ của nguyên đơn là bao nhiêu, việc bà hỏi vay tiền của bà T là do bà có nhu cầu, mong muốn giúp đỡ mẹ, anh chị em và gia đình bà ở quê B, Bến
Tre cũng như trả lãi vay cho nguyên đơn; chồng, con bà không biết và không sử dụng, hưởng lợi từ khoản vay này.
Bà và bà Lê Ngọc T không có thỏa thuận lãi khi vay tiền. Khi gia đình, anh chị, em bà làm ăn thuận lợi, có thu nhập tốt từ khoản tiền bà giúp đỡ thì có đưa tiền cho bà, bà sử dụng số tiền này để trả gốc hoặc lãi cho bà T, mức trả này do bà tự nguyện, tiền bà trả cho bà T là tiền trả dần vào gốc vay hoặc là tiền bà cảm ơn vì bà T đã cho bà vay tiền mà không yêu cầu trả lãi suất. Do khoản vay giữa bà và nguyên đơn là vay không có thời hạn, bản thân bà chưa có nhu cầu chấm dứt quan hệ vay và cũng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà chưa có điều kiện hoàn trả ngay khoản vay. Việc vay mượn là quan hệ cá nhân giữa bà và bà T không liên quan đến doanh nghiệp tư nhân K 1 và gia đình bà, thực tế khi viết giấy nhận tiền vay cộng dồn nhiều đợt do thực hiện tại tiệm vàng nơi bà làm việc và bà T thường đến liên hệ, cũng để thuận tiện vì không có sẵn giấy khác để ghi biên nhận nên bà có sử dụng giấy biên nhận có đóng dấu sẵn của Doanh nghiệp tư nhân K - là loại giấy bà thường xuyên sử dụng để viết xác nhận số tiền vay cho bà T.
Đề nghị nguyên đơn xác định lại chủ thể bị kiện là Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 hay là cá nhân bà Trần Thanh M.
Xác định phạm vi trách nhiệm của bà M trong khối tài sản chung của vợ chồng bà Trần Thanh M và ông Nguyễn Văn M1.
Bị đơn sẽ tìm kiếm phương án để trao đổi hòa giải với nguyên đơn sau.
Bị đơn thừa nhận có nợ của nguyên đơn nhưng bị đơn chưa thống nhất về số tiền nợ gốc và tiền lãi, lãi suất theo lời trình bày của nguyên đơn.
3/ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Dương H trình bày:
Ông thống nhất với ý kiến trình bày của bị đơn, ông Nguyễn Văn M1 không liên quan và không chịu trách nhiệm đối với việc vay nợ của cá nhân bà M hoặc Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 vay.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Ngọc T.
1. Buộc bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 phải trả cho bà Lê Ngọc T số tiền 20.600.000.000 đồng (hai mươi tỷ sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả 463.314.593 đồng (bốn trăm sáu mươi ba triệu, ba trăm mười bốn nghìn, năm trăm chín mươi ba đồng), tổng cộng số tiền bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân K phải trả cho bà Lê Ngọc T là 21.063.314.593 đồng (hai mươi mốt tỷ, không trăm sáu mươi ba triệu, ba trăm mười bốn nghìn, năm trăm chín mươi ba đồng) trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành chưa thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi
hành còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Ngọc T về việc tính tiền lãi chậm trả từ ngày 01/9/2023 đến ngày 10/11/2023.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Ngọc T về việc tính tiền lãi từ ngày 01/8/2023 đến ngày 31/8/2023 theo lãi suất 1,5 %/ tháng do vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về việc phong tỏa tài sản của bà Trần Thanh M là nhà đất số E C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 01, tờ bản đồ số 33 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1585/2009/UB.GCN ngày 10/6/2009 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp.
Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 05/2023/QĐ-BPBĐ ngày 25/10/2023; bà Lê Ngọc T được nhận lại số tiền đã phong tỏa là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) theo tài khoản phong tỏa số 221750101005372 tại Phòng G – Chi nhánh C – Ngân hàng TMCP X, địa chỉ 4 N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật quy định.
Ngày 15/02/2024, bà Trần Thanh M – Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 có đơn kháng cáo đối với Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ việc giải quyết vụ án vì nguyên đơn chưa đủ điều kiện để khởi kiện. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp sổ giao nhận tiền nhưng không xác định số tiền ghi nhận là khoản tiền lãi hay khoản tiền gốc và thanh toán cho khoản vay nào.
Nguyên đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ thể hiện việc bị đơn đóng lãi hàng tháng cho nguyên đơn. Nguyên đơn cung cấp biên nhận nhận lãi với lãi suất thỏa thuận là 1,5%/ tháng. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố
tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Giữ nguyên bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thời hạn kháng cáo: Ngày 01 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án, người đại diện hợp pháp của bị đơn có mặt tại thời điểm tuyên án. Ngày 15/02/2024, bị đơn có đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn kháng cáo của đương sự còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định nên được chấp nhận xem xét.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án không đúng quy định do tại thời điểm khởi kiện, người khởi kiện không có quyền khởi kiện; bị đơn cho rằng khoản vay giữa nguyên đơn và bị đơn là khoản vay không có thời hạn, bản thân bà Trần Thanh M chưa có nhu cầu chấm dứt quan hệ vay, và cũng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà M chưa có điều kiện hoàn trả ngay toàn bộ khoản vay; thực tế bà Lê Ngọc T chưa có thông báo đòi toàn bộ tiền vay, chưa thông báo chấm dứt quan hệ vay đến bà M trước một thời gian hợp lý; việc bà T thông báo đòi nợ vào ngày 03/11/2023 được thực hiện sau khi khởi kiện (ngày 17/10/2023), sau khi tòa án thụ lý giải quyết vụ án (ngày 18/10/2023), Hội đồng xét xử nhận thấy:
Theo nguyên đơn và bị đơn trình bày, hai bên quen biết nhau từ trước và là bạn bè thân thiết với nhau, từ năm 2016 bị đơn nhiều lần vay tiền của nguyên đơn, hai bên không viết biên nhận, đến tháng 01 năm 2022 mới bắt đầu viết biên nhận vay tiền như tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn nhiều lần trả tiền vay, tiền lãi cho nguyên đơn, đến tháng 8 năm 2023 thì bị đơn không thực hiện việc tiếp tục trả tiền lãi cũng như tiền vay cho nguyên đơn nữa. Nguyên đơn cho rằng, nhiều lần bà gọi điện thọai cũng như gặp trực tiếp bị đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền vay nhưng bị đơn chỉ hứa mà không thực hiện. Hội đồng xét xử nhận thấy: Phía bị đơn cho rằng nguyên đơn không thông báo cho bị đơn về việc đòi tiền vay là không đúng vì nguyên đơn cho rằng bà đã nhiều lần gặp bị đơn cũng như điện thoại cho bị đơn yêu cầu trả tiền nhưng bị đơn cho biết bị đơn đang gặp khó khăn nên chưa có khả năng trả
nợ cho nguyên đơn. Lời trình bày này là phù hợp với diễn biến cho vay giữa hai bên và lời khai của bị đơn. Bên cạnh đó, theo nội dung tin nhắn bị đơn nhắn cho con trai của nguyên đơn vào lúc 00:05 ngày 17/10 thể hiện bị đơn đã biết việc nguyên đơn sẽ khởi kiện bị đơn ra Tòa án và yêu cầu bị đơn phải trả một lần toàn bộ khoản vay; thời điểm bị đơn biết nguyên đơn sẽ khởi kiện mình ra Tòa án là trước khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện bị đơn đến Tòa án nhân dân Quận 10. Mục đích của việc bên cho vay thông báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý là để xác định thời điểm nào trong hợp đồng vay tài sản nhằm tính lãi đối với việc chậm trả nợ gốc; việc thông báo này không phải là điều kiện bắt buộc đối với việc khởi kiện tại Tòa án. Bị đơn cho rằng người khởi kiện không có quyền khởi kiện là không đúng vì căn cứ Điều 2 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành ngày 05/5/2017 quy định về các trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn không thuộc các trường hợp này.
[2.2] Bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án không đúng do người khởi kiện đã khởi kiện sai đối tượng. Việc vay mượn là quan hệ cá nhân giữa bà Trần Thanh M và bà Lê Ngọc T, không liên quan đến Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xét các giấy Biên nhận ngày 01/02/2022; ngày 04/5/2022; ngày 28/9/2022; ngày 07/10/2022; ngày 04/01/2023; ngày 01/02/2023 và ngày 03/4/2023 thể hiện nội dung bà Lê Ngọc T có cho bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 vay với tổng số tiền là 20.600.000.000 đồng (hai mươi tỷ, sáu trăm triệu đồng) có chữ ký ghi họ tên và đóng dấu của bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1. Nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận chữ ký là của bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân K; con dấu là của Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1. Như vậy, việc nguyên đơn khởi kiện bị đơn là đúng đối tượng khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
[2.3] Bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 trả toàn bộ tiền gốc và lãi vay từ ngày 11/11/2023 đến ngày 01/02/2023 là không phù hợp với thực tế khách quan, không phù hợp với các chứng cứ và không phù hợp với phạm vi xét xử phúc thẩm; Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với số nợ gốc: Các giấy Biên nhận ngày 01/02/2022; ngày 04/5/2022; ngày 28/9/2022; ngày 07/10/2022; ngày 04/01/2023; ngày 01/02/2023 và ngày 03/4/2023 thể hiện nội dung bà Lê Ngọc T có cho bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 vay với tổng số tiền 20.600.000.000 đồng (hai mươi tỷ, sáu trăm triệu đồng) có chữ ký ghi họ tên và đóng dấu của bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1. Tại các Bản tự khai ngày 30/10/2023 và ngày 31/10/2023 bị đơn trình bày: “Vào năm 2016, tôi và nguyên đơn - bà Lê Ngọc T có đưa cho tôi vay
tiền để tiêu xài, số tiền vay của nguyên đơn được đưa nhiều lần, số tiền các lần không giống nhau, mỗi lần vay tiền hai bên viết giấy tay, ký nhận, sau nhiều đợt nguyên đơn yêu cầu gom lại và đổi giấy để ghi số tiền tổng của khoản vay đã đưa trong một thời gian nhất định, do tiền vay giao nhận nhiều đợt, đổi giấy vay nhiều lần thực hiện trong thời gian dài nên đến nay tôi không nhớ chính xác số tiền vay còn nợ của nguyên đơn là bao nhiêu. Do khoản vay giữa tôi và nguyên đơn là vay không có thời hạn, bản thân tôi chưa có nhu cầu chấm dứt quan hệ vay và cũng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên tôi chưa có điều kiện hoàn trả ngay khoản vay. Việc vay mượn là quan hệ cá nhân giữa tôi và bà T không liên quan đến doanh nghiệp tư nhân K 1 và gia đình tôi, thực tế khi viết giấy nhận tiền vay cộng dồn nhiều đợt do thực hiện tại tiệm vàng nơi tôi làm việc và bà T thường đến liên hệ, cũng để thuận tiện vì không có sẵn giấy khác để ghi biên nhận nên tôi có sử dụng giấy biên nhận có đóng dấu sẵn của Doanh nghiệp tư nhân K - là loại giấy tôi thường xuyên sử dụng để viết xác nhận số vay cho bà T”.
Vì vậy, có cơ sở xác định bị đơn bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 vay mượn số tiền 20.600.000.000 đồng (hai mươi tỷ, sáu trăm triệu đồng) của bà Lê Ngọc T và bị đơn chưa trả cho nguyên đơn số tiền này. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay là có cơ sở nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vay 20.600.000.000 (hai mươi tỷ, sáu trăm triệu đồng) đồng là phù hợp;
Đối với khoản tiền lãi: Ngày 03/11/2023 nguyên đơn giao thông báo về việc trả nợ cho bị đơn có sự chứng kiến và xác nhận của Văn phòng T1, thời hạn trả nợ là 07 ngày. Do đó, căn cứ Điều 463 và Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 bị đơn phải trả tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền từ ngày 11/11/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là có cơ sở nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu tính tiền lãi chậm trả của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền lãi chậm trả từ ngày 11/11/2023 đến ngày 01/02/2024 với lãi suất chậm trả là 10%/ năm là phù hợp.
[2.4] Bị đơn cho rằng chưa thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của gia đình bà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Lê Ngọc T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thanh M phải trả cho bà T số tiền nợ gốc và tiền lãi; theo quy định tại Điều 111 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo cho việc thi hành án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T; bà T có đơn yêu cầu theo quy định tại Khoản 11 Điều 114 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét, giải quyết đơn yêu cầu của bà T theo quy định tại Điều 112 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án nhân dân Quận 10 ban hành Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 05/2023/QĐ-BPBĐ ngày 25/10/2023 buộc bà T phải gửi tài sản bảo đảm theo
quy định pháp luật và bà T đã thực hiện Biện pháp bảo đảm. Ngày 25/10/2023, Tòa án nhân dân Quận 10 ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2023/ QĐ- BPKCTT.
Theo Giấy phép cho nhà ngày 24 tháng 9 năm 1991 bà Trần Thanh M được ông Huỳnh Văn H1 tặng cho riêng bà M nhà đất tọa lạc tại số E C, phường A, Quận A; năm 2009 bà Trần Thanh M được cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1585/2009/UB.GCN do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 10/6/2009. Đây là tài sản thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng riêng của bà M. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 188 của Luật Doanh nghiệp 2020: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” là cần thiết để đảm bảo cho việc thi hành án là đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp các biên nhận nhận tiền lãi của nguyên đơn; nguyên đơn thừa nhận, lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,5%/ tháng và tiền lãi bị đơn trả cho nguyên đơn là đúng với thỏa thuận của hai bên và trên số tiền nguyên đơn cho bị đơn vay. Lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,5%/ tháng, tương ứng với 18%/năm là phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân K, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 10.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận đơn kháng cáo của Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1.
[1] Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thanh M - Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Kim Ngân 1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số số AA/2023/0002165 ngày 23/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Quy |
Bản án số 386/2024/DS-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 386/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
