TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 386/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15/4/2025
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.
Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Huỳnh Thị Huế;
- 2. Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1450/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 157/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa:
- - Nguyên đơn: Ông Dương Ngọc Đ, sinh năm 1981, có mặt.
- Địa chỉ thường trú: Tổ E, ấp S, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Địa chỉ cư trú: Số D đường G, ấp S, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1984, vắng mặt.
- Địa chỉ thường trú: Số F, đường D, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn xin ly hôn ngày 14 tháng 11 năm 2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Dương Ngọc Đ trình bày sự việc như sau:
Năm 2023, ông Đ và bà Lê Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận kết hôn số 119, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hòa thuận, ông Đ và bà Lê Thị H cùng nhau lao động xây dựng gia đình. Tuy nhiên, hơn một năm nay, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân giữa ông Đ và bà H ngày càng gay gắt, vợ chồng không tôn trọng ý kiến của nhau, không có tiếng nói chung, đời sống hôn nhân của ông Đ và bà H không thể khôi phục lại như trước. Ông Đ và bà H đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà H.
Về con chung: Ông Đ xác định ông và bà H không có con chung.
Về tài sản chung: Ông Đ xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Đ xác định không có.
- Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Lê Thị H không có mặt nên không có lời khai của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ kiện bà Lê Thị H có địa chỉ tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 1450/TB-TA ngày 20/12/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải kèm giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/3/2025 kèm giấy triệu tập; Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24/3/2025 kèm giấy triệu tập nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Lê Thị H vắng mặt mà không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà H.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Dương Ngọc Đ về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Lê Thị H, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ hôn nhân:
Ông Dương Ngọc Đ và bà Lê Thị H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 119 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/12/2023, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Đ khai rằng sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hòa thuận, ông Đ và bà Lê Thị H cùng nhau lao động xây dựng gia đình. Tuy nhiên, hơn một năm nay, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân giữa ông Đ và bà H ngày càng gay gắt, vợ chồng không tôn trọng ý kiến của nhau, không có tiếng nói chung, đời sống hôn nhân của ông Đ và bà H không thể khôi phục lại như trước, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông Đ và bà H đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà H.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa ông Đ và bà H có nhiều mâu thuẫn. Tại phiên tòa, ông Đ vẫn cương quyết xin ly hôn với bà H vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể kéo dài; mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, bà H cũng không có mặt mà không rõ lý do, điều này thể hiện bà H không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Đ.
Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa ông Đ và bà H không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ông Đ là có cơ sở.
- Về con chung:
Ông Đ xác định giữa ông Đ và bà H không có con chung.
- Về tài sản chung:
Ông Đ khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Ông Đ khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí:
Ông Đ phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Dương Ngọc Đ.
- Về quan hệ hôn nhân:
- Ông Dương Ngọc Đ được quyền ly hôn với bà Lê Thị H.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 119 ngày 07/12/2023 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Đ và bà H không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
- Ông Đ khai không có con chung nên không xét.
- Về tài sản chung:
- Ông Đ khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
- Ông Đ khai không có nghĩa vụ dân sự chung nên không xét.
- Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc ông Đ phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0063210 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, ông Đ đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (bà Lê Thị H) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thanh Hương |
Bản án số 386/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 386/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn đơn phương
