|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 386/2024/HS-PT Ngày: 21-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Huỳnh Hoa
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quyên
Bà Lê Thị Ký
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 243/2024/TLPT-HS, ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2024/HS-ST, ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị P, sinh ngày 01/01/1981 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi thường trú: Ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947; Gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Có chồng là Trương Văn K (Đã ly hôn) và có 03 con: lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 30/01/2024, bị Trưởng Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (đối với hành vi đánh bạc tại xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai ngày 24/01/2024).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2024 đến ngày 26/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt)
Ngoài ra, còn có bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 24/01/2024, lực lượng Cảnh sát hình sự Công an huyện V phối hợp Công an xã M phát hiện Nguyễn Thị P đang ở nhà tại ấp B, xã M, huyện V có hành vi đánh bạc hình thức đánh bài Tứ sắc nên tiến hành lập hồ sơ xử lý. Qua kiểm tra điện thoại của Nguyễn Thị P phát hiện tin nhắn thể hiện đánh bạc hình thức ghi số đề với Lý Thị Kim P1, cụ thể như sau:
Nguyễn Thị P và Lý Thị Kim P1 cùng làm công nhân tại Công ty TNHH N1 thuộc xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khoảng giữa tháng 01/2024, Nguyễn Thị P nảy sinh ý định đánh bạc hình thức nhận ghi số đề nên nói với Lý Thị Kim P1 nếu có nhu cầu ghi đề thì nhắn qua ứng dụng zalo cho Nguyễn Thị P.
Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 23/01/2024, Lý Thị Kim P1 sử dụng điện thoại di động Oppo A53 gắn sim số 0939.610.317 có tài khoản zalo “Lý Thị Kim P1” nhắn tin vào điện thoại di động S A32 gắn sim số 0348.606.559 có tài khoản zalo là “Phượng N” của Nguyễn Thị P đánh bạc hình thức ghi số đề với nội dung “VT.23.32.59.95.bl.100n”, nghĩa là dựa vào kết quả xổ số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chọn bao lô 100.000 đồng các số 23, 32, 59, 95, Nguyễn Thị P nhắn tin “Ok” xác nhận đồng ý với tổng số tiền ghi đề là 5.200.000 đồng.
Ngày 24/01/2024, Nguyễn Thị P và Lý Thị Kim P1 đến Công an thị trấn V, huyện V đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
* Tang vật, tài sản thu giữ:
- - Nguyễn Thị P giao nộp 01 điện thoại di động S A32.
- - Lý Thị Kim P1 giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Oppo A53 và 12.200.000 đồng (tiền tham gia đánh bạc).
* Cách thức đánh bạc và mức độ thắng thua như sau:
Trước khi có kết quả xổ số kiến thiết của đài miền N, người mua đề lựa chọn con số theo ý thích và đặt cược tiền số đã chọn để so sánh với các con số trên lô xổ số khi mở thưởng sau đó gửi tin nhắn cho người bán qua mạng zalo.
Người bán đề nhắn tin “ok” xác nhận lại với người mua. Khi kết quả sổ xố kiết thiết trong ngày mở, nếu các con số của người mua đề trùng các con số trên các lô xổ số thì người mua đề thắng bạc, người bán đề trả tiền cho người mua đề. Ngược lại thì người mua đề thua bạc với số tiền sử dụng để ghi số đề. Mức độ ăn thua được tính theo các hình thức: Đầu, đuôi tức là mua hai số trùng với hai số ở giải tám hoặc hai số cuối của giải đặc biệt thì tỷ lệ thắng bạc là 01 ăn 70 lần; bao lô 02 số tức là mua 02 con số bất kỳ nếu trùng với 02 con số cuối của tất cả các giải thì thắng bạc tỷ lệ 01 ăn 70 lần; bao lô 03 số tỷ lệ thắng bạc 01 ăn 600 lần; đánh số xiên (03 cặp số) tức là chọn bao lô ba cặp số trùng với 02 con số cuối của tất cả các giải thì thắng bạc tỷ lệ 01 ăn 500 lần; xổ chủ tức là khi 03 con số của giải bảy trùng với 03 con số của giải đặc biệt thì người mua thắng bạc tỷ lệ 01 ăn 500 lần; số đá tức là mua ít nhất 02 cặp số nếu trùng với 02 số cuối của tất cả các giải thì thắng bạc tỷ lệ 01 ăn 700 lần.
Đối chiếu kết quả xổ số kết quả xổ số mở thưởng ngày 23/01/2024, số 32 trúng đề là 7.000.000 đồng. Vì vậy tổng số tiền đánh bạc là 12.200.000 đồng, các bên đã thanh toán cho nhau sau khi có kết quả xổ số.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ để chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/01/2024 đến ngày 26/01/2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt tiền bị cáo Lý Thị Kim P1 trong vụ án số tiền 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 06/5/2024, bị cáo Nguyễn Thị P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chuyển hình phạt tù sang phạt tiền với nội dung: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình, trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Do đó, cần dành cho bị cáo mức hình phạt phù hợp đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo và xử phạt bị cáo P mức án nêu trên là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Mặt khác, trong giai đoạn phúc thẩm; bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ gì mới để xem xét nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để quyết định như sau:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị P; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, cụ thể:
Ngày 23/01/2024, tại ấp B, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị P và Lý Thị Kim P1 đánh bạc với nhau hình thức ghi số đề, với tổng số tiền là 12.200.000 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Nguyễn Thị P đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình, trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác nên cần xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” là có cơ sở. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị P tuy bị xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng do có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi tứ sắc vào ngày 24/01/2024, nhưng hành vi phạm tội “Đánh bạc” bị truy tố theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được thực hiện vào ngày 23/01/2024 (khi bị cáo đang chưa có tiền án, tiền sự); phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hậu quả hạn chế do hành vi đánh bạc được thực hiện chỉ có 02 người (bằng hình thức ghi số đề ăn thua với nhau) với số tiền đánh bạc không lớn là 12.200.000 đồng (trong đó tính luôn cả số tiền thắng bạc); bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp Đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đã ly hôn chồng, hiện bị cáo đang nuôi 03 con, trong đó: có 02 cháu đang ở độ tuổi vị thành niên, đang độ tuổi đi học (đính kèm các Giấy khai sinh). Đây là tình tiết giảm nhẹ mới để Hội đồng xét xử xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển sang áp dụng hình phạt tiền là cũng đủ nghiêm, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa, chăm sóc các con; sống có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm; nhưng như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo P, sửa bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị P 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Triệu Thị Huỳnh Hoa |
Bản án số 386/2024/HS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 386/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. [2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”. [3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [4] Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
