Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 386/2023/HNGĐ-ST

Ngày 25-12-2023

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định và ông Nguyễn Đức Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 505/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/11/2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 466/2023/QĐĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Nh, sinh năm 1984.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã Ng, huyện Th, tỉnh Hải Dương. Hiện đang cư trú tại Đài Loan (Trung Quốc). Vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Danh L, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn T, xã Ng, huyện Th, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt.

3. Người được chị Nh ủy quyền về việc giao nhận văn bản tố tụng: Bà Khương Thị L, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn T, xã Ng, huyện Th, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Nh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Danh L được tự do tìm hiểu, kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ng, huyện Th, tỉnh Hải Dương vào ngày 08/3/2003. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại địa phương, cuộc sống vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc. Đến năm 2012 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp khiến vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi. Năm 2014 chị đi lao động tại Đài Loan (Trung Quốc), vợ chồng mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Bản thân anh chị không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, gia đình hai bên đã khuyên B nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Lê Danh L theo quy định.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Lê Danh B, sinh ngày 03/5/2004 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai của anh Lê Danh L trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn như chị Nh đã trình bày. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại địa phương, cuộc sống vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc. Năm 2006 anh bị tai biến nên ảnh hưởng đến sức khỏe, gặp khó khăn trong việc đi lại. Thời gian sau này chị Nh đi lao động ở nước ngoài vẫn gửi tiền về để nuôi con nhưng vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ với nhau. Nay chị Nh có đơn ly hôn, anh chưa đồng ý, còn chị Nh kiên quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết.

Về con chung vợ chồng anh có 01 con chung như chị Nh trình bày, hiện con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai của ông Lê Danh Kh (bố đẻ anh Lê Danh L) thể hiện: Vợ chồng chị Nh, anh L có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Anh L bị tai biến nhiều năm nay nên gặp khó khăn trong việc đi lại và được ông cùng gia đình chăm sóc hàng ngày, chị Nh đi lao động ở nước ngoài có gửi tiền về và có trách nhiệm với con. Hơn 01 tháng gần đây chị Nh có về nước nghỉ phép và nói về việc vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Bản thân ông đã khuyên B nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay chị Nh có đơn ly hôn là quyền quyết định của anh chị, ông đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết.

Theo biên bản xác minh tại địa phương nơi các đương sự sinh sống và đăng ký kết hôn thể hiện: Chị Lê Thị Nh và anh Lê Danh L kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống, khu dân cư nắm được anh L bị tai biến từ nhiều năm nay, chị Nh đi lao động tại nước ngoài, vợ chồng mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm, gắn bó với nhau. Nay chị Nh có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lê Thị Nh, bị đơn anh Lê Danh L vắng mặt và có đơn, quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX), các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật HN&GĐ, Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Nh ly hôn anh Lê Danh L; Về án phí: Chị Lê Thị Nh phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Nh hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc), trong thời gian nghỉ phép về nước chị Nh đã nộp đơn ly hôn cùng các tài liệu kèm theo đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Do vậy, việc Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, chị Nh, anh L vắng mặt và có đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Nh và anh Lê Danh L kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ng, huyện Th, tỉnh Hải Dương ngày 08/3/2003, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, mỗi người ở một nơi, không không còn quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Bản thân anh L chưa đồng ý ly hôn nhưng anh cũng thừa nhận từ lâu anh chị không còn nói chuyện được với nhau, không còn tình cảm và không có biện pháp cải thiện quan hệ hôn nhân. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nh và anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh qua lời khai của đại diện gia đình, quan điểm của địa phương và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Nh ly hôn anh L là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về quan hệ nuôi con: Chị Lê Thị Nh và anh Lê Danh L có 01 con chung là Lê Danh B, sinh ngày 03/5/2004 hiện đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).

[3] Về án phí: Chị Lê Thị Nh là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Nh ly hôn anh Lê Danh L.

2. Về án phí: Chị Lê Thị Nh phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000279 ngày 09/11/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Danh L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Chị Lê Thị Nh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Ng, huyện Th, tỉnh Hải
  • Dương(để ghi sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Minh Tân

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 386/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 386/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nh có đơn khởi kiện ly hôn với anh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger