Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự Do – Hạnh phúc

Bản án số: 3853/2024/DS-ST

Ngày: 20/8/2024

Về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Hoài .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi.
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1650/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4737/2024/QĐXXST- DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 5794/2024/QĐST – DS ngày 23/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Số C, đường M, Tổ D, Thôn B, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Cao C, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số A, đường G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh làm đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số công chứng 2184, quyển số 09-SCT/CK,ĐC ngày 12/9/2023 tại Văn phòng C1).

Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Quốc P, sinh năm 1966;
  2. Bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1974.

Cùng địa chỉ: Số C, Đường A, Tổ F, Khu phố G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đặng Lê Thụy Quỳnh M, sinh năm 1987;
  2. Địa chỉ: 3 Lô B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Đặng Lê Bửu V, sinh năm 1985;
  4. Địa chỉ: Số B Đường B, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/9/2023, bản tự khai, biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị T có ông Trần Cao C là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 22/02/2015, do có nhu cầu kinh doanh bất động sản, ông Nguyễn Quốc P, bà Trần Thị Kim O đã liên hệ bà Lê Thị T vay tiền. Vì tin tưởng nên bà T đã cho ông P và bà O vay số tiền là 550.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay là 3 tháng từ ngày 22/02/2015 đến ngày 22/5/2015. Việc vay mượn được lập thành "Giấy vay tiền". Để đảm bảo khoản vay, ông P và bà O có đưa bà T 02 giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG065859 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 06/6/2011 cho ông Nguyễn Quốc P và bà Trần Thị Kim O; Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797632684500178 do Ủy ban nhân dân Quận I cấp ngày 03/7/2007 cho ông Dương Văn X để làm tin.

Đến thời hạn phải trả nợ gốc và nợ lãi, ông P và bà O không thực hiện trả nợ như đã cam kết mặc dù bà Lê Thị T đã nhiều lần thúc dục và nhắc nhở. Sau đó, vợ chồng ông P đã nhiều lần đến nhà bà Lê Thị T để hẹn lại thời gian trả nợ, các lần hẹn nợ đều được ông P và bà O lập thành "Giấy hẹn nợ", cụ thể như sau:

  • Ngày 13/3/2016, hẹn trả nợ vào ngày 30/3/2016;
  • Ngày 05/6/2019, hẹn trả nợ sau 60 ngày tức ngày 05/8/2019;
  • Ngày 18/10/2020, hẹn trả nợ sau 30 ngày tức ngày 19/11/2020.

Sau đó, ông P và bà O còn nhắn tin trên ứng dụng Zalo có thể hiện số điện thoại để tiếp tục hẹn trả nợ vào các ngày như sau: Ngày 25/9/2022, hẹn trả nợ vào ngày 15/11/2022; Ngày 11/3/2023, hẹn trả nợ vào ngày 28/3/2023.

Từ đó đến nay, mặc dù bà Lê Thị T đã dùng nhiều cách thức liên lạc và rất nhiều lần liên hệ đề nghị ông P, bà O thanh toán số tiền 550.000.000 đồng tiền nợ gốc và số tiền lãi phát sinh. Tuy nhiên, ông P và bà O thoái thác trách nhiệm, không thanh toán cho bà Lê Thị T số tiền trên. Nay bà T yêu cầu:

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Quốc P, bà Trần Thị Kim O thanh toán cho bà Lê Thị T tổng số tiền tính đến ngày 20/8/2024 là 1.026.025.000 đồng (Một tỷ, không trăm hai mươi sáu triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn đồng), trong đó: Nợ gốc là 550.000.000 đồng; Lãi trong hạn từ ngày 22/02/2015 đến ngày 22/5/2015 là 550.000.000 đồng x 13,5%/năm x 03 tháng = 18.562.500 đồng; Lãi quá hạn từ ngày 23/5/2015 đến ngày 20/8/2024 theo mức lãi suất 9%/năm là 457.462.500 đồng.

2

Bị đơn ông Nguyễn Quốc P có đơn xin vắng mặt nhưng có bản tự khai trình bày: Ông là chồng của bà Trần Thị Kim O. Bà O là người trực tiếp vay tiền và nhận tiền, đóng lãi cho bà Lê Thị T. Ông có biết việc vay tiền trên và có ký vào giấy nợ, cụ thể: Tháng 02/2012 vay của bà T số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng. Ngày 08/3/2012, bà O trả lãi tháng đầu cho bà T là 15.000.000 đồng, trả bằng hình thức chuyển khoản cho con bà T tên là Đặng Lê Thụy Quỳnh M. Các tháng tiếp theo, bà O có bao nhiêu trả bấy nhiêu vào tài khoản của bà M, cụ thể: Ngày 08/3/2012 trả 15.000.000 đồng; Ngày 07/4/2012 trả 13.000.000 đồng; Ngày 08/5/2012 trả 11.000.000 đồng; Ngày 11/6/2012 trả 12.000.000 đồng; Ngày 05/7/2012 trả 13.000.000 đồng; Ngày 08/8/2012 trả 5.000.000 đồng; Ngày 05/11/2012 trả 11.000.000 đồng; Ngày 08/3/2013 trả 13.000.000 đồng; Ngày 30/3/2013 trả 10.000.000 đồng; Ngày 17/4/2013 trả 4.000.000 đồng; Ngày 09/5/2013 trả 10.000.000 đồng. Tổng cộng, bà O đã trả được 117.000.000 đồng.

Phần lãi bà O trả không đủ nên bà T cộng lại nhập vào tiền gốc, ngày 10/6/2013, bà T yêu cầu ông ký xác nhận ông không đồng ý vì bà T ghi nợ gốc cộng lãi thành gốc và từ gốc tính lãi, lãi cộng lãi thành con số 350.000.000 đồng.

Bà O tiếp tục đóng lãi cho bà T bằng hình thức chuyển khoản cho bà M, cụ thể: ngày 07/11/2013, trả 10.000.000 đồng; Ngày 10/7/2014 trả 4.000.000 đồng; Ngày 22/8/2014 trả cho bà T 10.000.000 đồng;

Ngày 22/5/2015, bà Lê Thị T viết giấy nợ số tiền là 550.000.000 đồng trong đó ghi nợ ngày 10/6/2013 là 350.000.000 đồng, cộng với lãi thành gốc và từ gốc tính lãi thành con số 550.000.000. Giấy này ông ký, bà O không biết, không ký và bà T tự ký chữ ký của bà O. Nay yêu cầu của bà T, ông không đồng ý. Ông chỉ đồng ý trả cho bà T số tiền nợ gốc 150.000.000 đồng, lãi 53.222.000 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị Kim O vắng mặt nhưng có lời khai như sau: Bà và bà Lê Thị T là người cùng quê nên quen biết nhau, bà biết bà T là người chuyên cho vay ở địa phương nên bà có vay tiền của bà T từ năm 2012, cụ thể: Tháng 02/2012 vay của bà T số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng. Ngày 08/3/2012, bà trả lãi tháng đầu cho bà T là 15.000.000 đồng, trả bằng hình thức chuyển khoản cho con bà T tên là Đặng Lê Thụy Quỳnh M. Các tháng tiếp theo, bà có bao nhiêu trả bấy nhiêu vào tài khoản của bà M, cụ thể: Ngày 08/3/2012 trả 15.000.000 đồng; Ngày 07/4/2012 trả 13.000.000 đồng; Ngày 08/5/2012 trả 11.000.000 đồng; Ngày 11/6/2012 trả 12.000.000 đồng; Ngày 05/7/2012 trả 13.000.000 đồng; Ngày 08/8/2012 trả 5.000.000 đồng; Ngày 05/11/2012 trả 11.000.000 đồng; Ngày 08/3/2013 trả 13.000.000 đồng; Ngày 30/3/2013 trả 10.000.000 đồng; Ngày 17/4/2013 trả 4.000.000 đồng; Ngày 09/5/2013 trả 10.000.000 đồng. Tổng cộng bà đã trả được 117.000.000 đồng.

Phần lãi bà trả không đủ nên bà T cộng lại nhập vào tiền gốc, ngày 10/6/2013, bà T viết giấy xác nhận nợ tổng cộng là 350.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà ký xác nhận bà không đồng ý vì bà T ghi nợ gốc cộng lãi thành gốc và từ gốc tính lãi, lãi cộng lãi thành con số 350.000.000 đồng.

3

Bà tiếp tục đóng lãi cho bà T bằng hình thức chuyển khoản cho bà M, cụ thể: Ngày 07/11/2013, trả 10.000.000 đồng; Ngày 10/7/2014 trả 4.000.000 đồng; Ngày 22/8/2014 trả cho bà T 10.000.000 đồng.

Ngày 22/5/2015, bà Lê Thị T viết giấy nợ số tiền là 550.000.000 đồng trong đó ghi nợ ngày 10/6/2013 là 350.000.000 đồng, cộng với lãi thành gốc và từ gốc tính lãi thành con số 550.000.000. Giấy này mình ông P ký, bà không biết, không ký và bà T tự ký chữ ký của bà. Nay bà không đồng ý với yêu cầu của bà T vì bà đã đóng lãi cho bà T số tiền 141.000.000 đồng. Bà chỉ đồng ý trả gốc ban đầu là 150.000.000 đồng và bà đồng ý trả lãi theo quy định pháp luật trên số tiền gốc từ tháng 02 năm 2012 đến nay (tháng 02 năm 2024) là 53.222.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Lê Thụy Q có đơn xin vắng mặt nhưng có lời khai trình bày: Bà là con ruột của ông Đặng Văn H và bà Lê Thị T. Ông H chết ngày 06/5/2023. Toàn bộ số tiền của bà T cho ông P, bà O vay là tiền riêng của bà T, không liên quan đến bà. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đề nghị Tòa xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Lê Bửu V có đơn xin vắng mặt nhưng có lời khai trình bày: Ông là con ruột của ông Đặng Văn H và bà Lê Thị T. Ông H chết ngày 06/5/2023. Toàn bộ số tiền của bà T cho ông P, bà O vay là tiền riêng của bà T, không liên quan đến ông. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đề nghị Tòa xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Theo những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chọ thấy bà Lê Thị T yêu cầu bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quốc P thanh toán số tiền 1.026.025.000 đồng (Một tỷ, không trăm hai mươi sáu triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 550.000.000 đồng; lãi trong hạn là 18.562.500 đồng; Số tiền lãi quá hạn là 457.462.500 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Quốc P, bà Trần Thị Kim O, về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quốc P cùng cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về tư cách tham gia tố tụng: Tại giấy trích lục khai tử ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/9/1995 (chồng bà Lê Thị T) đã chết lúc 11 giờ 50 phút ngày 06/5/2023. Ông H có cha tên Đặng Văn N (đã chết ngày 04/5/1990), mẹ ruột tên Nguyễn Thị S (đã chết ngày 29/4/1979). Ông H và bà T có 02 con chung tên Đặng Lê Thụy Quỳnh M, sinh năm: 1987 và Đặng Lê Bửu V, sinh năm: 1985. Căn cứ khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đưa bà Đặng Lê Thụy Quỳnh M và ông Đặng Lê Bửu V vào tham gia tô tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt Giấy triệu tập xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự. Bị đơn ông Nguyễn Quốc P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Lê Thụy Quỳnh M, ông Đặng Lê Bửu V có đơn xin vắng mặt. Bị đơn bà Trần Thị Kim O vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Quốc P, bà Trần Thị Kim O, ông Đặng Lê Bửu V, bà Đặng Lê Thụy Quỳnh M.

[2] Về nội dung vụ án:

Về số tiền nợ gốc: Bà T yêu cầu ông P và bà O trả số tiền nợ gốc là 550.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại giấy vay tiền ngày 22/02/2015 có thể hiện thông tin: Ông Nguyễn Quốc P, năm sinh, CMND, địa chỉ, số tiền vay là 550.000.000 đồng, lãi suất 2%, mục đích vay là kinh doanh bất động sản, thời hạn vay là 03 tháng từ ngày 22/02/2015 đến ngày 22/5/2015, giấy vay tiền này đã được ông Nguyễn Quốc P ký tên và ông P có ghi vợ bệnh không ký được và bên trên có chữ ký của bà O kèm Trần Thị Kim O. Ông P có đơn xin vắng mặt và lời khai gửi Tòa án xác nhận có ký vào giấy vay tiền ngày 22/02/2015. Tuy nhiên, ông P cho rằng đây là khoản nợ trong đó nợ ghi ngày 10/6/2013 là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng), cộng với lãi thành gốc và từ gốc thành lãi, lãi cộng lãi thành con số 350.000.000 đồng nhưng ông Phòng K cung cấp tài liệu, chứng cứ nào chứng minh số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng này là từ số tiền 350.000.000 đồng vì toàn bộ nội dung giấy vay tiền ngày 22/02/2015 không thể hiện nội dung này. Mặt khác, tại bản tự khai, ông P cho rằng: Phần lãi bà O trả không đủ nên bà T cộng lại nhập vào tiền gốc, ngày 10/6/2013 (nhằm ngày 05/5/2013 âm lịch), bà T yêu cầu ông P ký xác nhận ông không đồng ý vì bà T ghi nợ gốc cộng lãi thành gốc và từ gốc thành lãi, lãi cộng lãi thành con số 350.000.000 đồng. Như vậy, tại thời điểm ngày 10/6/2013, ông P đã không đồng ý ký xác nhận nợ với bà T đối với số tiền 350.000.000 đồng vì đó là số tiền tiền lãi cộng lãi.... Giấy vay tiền ngày 22/02/2015 là thời điểm lập sau ngày 10/6/2013, ông P viết và ký xác nhận vay của bà T số tiền 550.000.000 đồng và cho rằng trong đó có số tiền 350.000.000 đồng của lãi cộng lãi... là không phù hợp với diễn biến thực tế xảy ra. Ông P xác nhận bà O là người trực tiếp vay tiền, nhận tiền và đóng lãi cho bà T. Bà O cho rằng chữ ký trong giấy vay tiền ngày 22/02/2015 không phải là của bà T. Tuy nhiên, tại các giấy hẹn nợ ngày 13/3/2016, ngày 05/6/2019, ngày 18/10/2020, trong đó có nội dung vợ chồng chúng tôi có vay tiền của chị T và hẹn sẽ trả cho chị T, dưới các giấy hẹn nợ này đều có chữ viết và chữ ký của ông Nguyễn Quốc P và bà Trần Thị Kim O, kèm theo đó là các tin nhắn hẹn ngày trả nợ. Tòa án đã mời các bên đến Tòa để tiến hành đối chất nhưng bà T vắng mặt không có lý do và phía bà O cũng không có ý kiến gì về chữ ký và chữ viết Trần Thị Kim O trong các giấy hẹn nợ nói trên. Các giấy hẹn nợ này được lập sau giấy vay tiền ngày 22/02/2015. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, các các tài liệu chứng cứ do bà Lê Thị T xuất trình thuộc trường hợp không cần phải chứng minh. Như vậy, có cơ sở để xác định ông P và bà O có vay của bà T số tiền nợ gốc là 550.000.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà T: Buộc bà O và ông P phải trả cho bà T số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về số tiền nợ lãi:

Giấy vay nợ ngày 22/02/2015 xác định đến ngày 22/5/2015 trả nợ nên đây là hợp đồng vay tài sản có thời hạn. Giấy vay tiền ghi lãi suất thỏa thuận là 2%, thỏa thuận lãi suất này vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 nên việc bà T yêu cầu được tính lãi trong hạn theo mức lãi suất 13.5%/năm là phù hợp nên chấp nhận.

Theo nội dung Giấy mượn tiền ngày 22/02/2015, thời hạn vay là 03 tháng kể từ ngày 22/02/2015 đến ngày 22/05/2015. Sau khi hết thời hạn trả nợ, ông P và bà O không thực hiện việc trả nợ gốc và vào các ngày 13/3/2016, 05/6/2019, 18/10/2020 mới làm giấy xin gia hạn thời hạn trả nợ và nhắn tin xin gia hạn đến tháng 8/2023. Do vậy, tiền lãi trong hạn chỉ được tính theo thỏa thuận trong Giấy mượn tiền ngày 22/02/2015 là từ ngày 22/02/2015 đến ngày 22/05/2015 với số tiền là 18.562.500 đồng là có căn cứ.

+ Về lãi quá hạn:

Căn cứ khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005, điểm b khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và yêu cầu của đương sự về việc tính lãi quá hạn theo lãi suất 9%/năm thì lãi quá hạn từ ngày 23/5/2015 (sau ngày hết hạn trả nợ) đến ngày 20/8/2024 với số tiền là 457.462.500 đồng là có căn cứ. Do đó, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện bà Lê Thị T, về việc buộc ông Nguyễn Quốc P và bà Trần Thị Kim O có trách nhiệm thanh toán tổng cộng nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20/8/2024 là 1.026.025.000 đồng (Một tỷ, không trăm hai mươi sáu triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 550.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn là 18.562.500 đồng; Tiền lãi quá hạn là 457.462.500 đồng. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

6

Đối với 02 giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG065859 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 06/6/2011 cho ông Nguyễn Quốc P và bà Trần Thị Kim O; Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797632684500178 do Ủy ban nhân dân Quận I cấp ngày 03/7/2007 cho ông Dương Văn X, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Lê Thị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với 02 giấy chứng nhận này. Phía bị đơn ông Nguyễn Quốc P, bà Trần Thị Kim O không có ý kiến và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với 02 giấy chứng nhận nói trên. Do đó, Hội đồng xét xử dành cho bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quốc P quyền khởi kiện đối với giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG065859 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 06/6/2011 cho ông Nguyễn Quốc P và bà Trần Thị Kim O; Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797632684500178 do Ủy ban nhân dân Quận I cấp ngày 03/7/2007 cho ông Dương Văn X trong vụ án khác nếu có yêu cầu.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Lê Thị T được chấp nhận nên bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quốc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 385, Khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T:

Buộc ông Nguyễn Quốc P và bà Trần Thị Kim O có trách nhiệm thanh toán tổng cộng nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20/8/2024 là 1.026.025.000 đồng (Một tỷ, không trăm hai mươi sáu triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 550.000.000 đồng; lãi trong hạn là 18.562.500 đồng; Số tiền lãi quá hạn là 457.462.500 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bà Lê Thị T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Quốc P và bà Trần Thị Kim O không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả số tiền nói trên thì hàng tháng bà O, ông P còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền tính trên nghĩa vụ chi trả. Nếu các bên không có thỏa thuận thì lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Dành cho bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quốc P quyền khởi kiện bà Lê Thị T đối với 02 giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG065859 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 06/6/2011 cho ông Nguyễn Quốc P và bà Trần Thị Kim O; Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797632684500178 do Ủy ban nhân dân Quận I cấp ngày 03/7/2007 cho ông Dương Văn X trong vụ án khác nếu có yêu cầu.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quốc P phải chịu án phí sơ thẩm là 42.780.750 đồng (Bốn mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).

3. Về quyền kháng cáo:

Bà Lê Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Ông Nguyễn Quốc P, bà Trần Thị Kim O, bà Đặng Lê Thụy Quỳnh M, ông Đặng Lê Bửu V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Hoài

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3853/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 3853/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger