TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 3850/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/8/2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Khê
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Đăng Vạn
- 2. Ông Mai Thanh Giàu
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 3127/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5822/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Trần Mỹ K, sinh năm: 1995 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: 2 H, phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: ông Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: I Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Mỹ K trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hữu P chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2019 ngày 23/10/2019. Sau ngày cưới chúng tôi sống chung tại Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian chung sống, lúc đầu hạnh phúc về sau không hạnh phúc do tính tình hai vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ. Hiện nay tình cảm vợ chồng rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà đã cố gắng hết sức nhưng không thể hàn gắn đoàn tụ được, Bà xin dứt khoát ly hôn với ông Nguyễn Hữu Phan . Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khải N, sinh ngày 28/4/2020. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Trần Khải N và yêu cầu ông Nguyễn Hữu P cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng đến khi trẻ Nguyễn Trần Khải N đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Hữu P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Hữu P không đến Tòa án, không gửi bản tự khai hay bất cứ tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Mỹ K xin vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hữu P vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ, cấp, tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng. Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Mỹ K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Mỹ K tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn (số 72/2019 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/10/2019). Nay bà Trần Mỹ K khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu P, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bà Trần Mỹ K và ông Nguyễn Hữu P đều có quốc tịch Việt Nam. Kết quả xác minh tại Công an phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xác định bị đơn ông Nguyễn Hữu P hiện đang cư trú tại địa chỉ I Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Nội dung tranh chấp:
Nguyên đơn xác định Bà và ông Nguyễn Hữu P không còn hạnh phúc do tính tình vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ. Nay Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho Bà được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Phan .
Bị đơn ông Nguyễn Hữu P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ nhưng ông Nguyễn Hữu P vắng mặt, không tham dự các buổi hòa giải, làm việc, công khai chứng cứ cũng như không tham dự phiên tòa.
Hội đồng xét xử nhận thấy bà Trần Mỹ K và ông Nguyễn Hữu P chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2019 ngày 23/10/2019 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Giữa bà Trần Mỹ K và ông Nguyễn Hữu P trên thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Bà Trần Mỹ K và ông Nguyễn Hữu P do tính cách không hợp nhau dẫn tới thường xuyên cãi vả, gây gổ làm cho cuộc sống hôn nhân mất hạnh phúc. Bị đơn, ông Nguyễn Hữu P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham dự các buổi hòa giải, làm việc cũng như dự phiên tòa hôm nay nhưng ông Nguyễn Hữu P không đến, thể hiện thái độ buông bỏ, không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với bà Trần Mỹ K. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Trần Mỹ K và ông Nguyễn Hữu P đã rạn nứt không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.
- Về con chung: nguyên đơn xác định Bà và ông Nguyễn Hữu P có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khải N, sinh ngày 28/4/2020. Hiện trẻ Nguyễn Trần Khải N đang sống chung với mẹ là bà Trần Mỹ K. Nay bà Trần Mỹ K yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Trần Khải N, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, giao con chung tên Nguyễn Trần Khải N cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về mức cấp dưỡng: Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông Nguyễn Hữu P cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng đến khi trẻ Nguyễn Trần Khải N đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử nhận thấy mức cấp dưỡng như trên là phù hợp với tình hình kinh tế tại địa phương, đảm bảo cho việc nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Trần Khải N cho đến khi trưởng thành nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung; bị đơn không có yêu cầu phản tố về phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Mỹ K với ông Nguyễn Hữu Phan .
Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2019 ngày 23/10/2019 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Hữu P và bà Trần Mỹ K không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Trần Khải N, sinh ngày 28/4/2020.
Giao trẻ Nguyễn Trần Khải N cho bà Trần Mỹ K trực tiếp nuôi dưỡng; Ông Nguyễn Hữu P cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng đến khi trẻ lần lượt đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom, chăm sóc con chung để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Kể từ ngày bà Trần Mỹ K có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hữu P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Trần Mỹ K phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Trần Mỹ K đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 21 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Đức. Bà Trần Mỹ K đã nộp đủ án phí.
Án phí cấp dưỡng nuôi con là: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Hữu P phải nộp. Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Khê |
Bản án số 3850/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 3850/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Hữu Phan ly hôn bà Trần Mỹ Kỳ
