|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 385/2023/HS-ST
Ngày 26-12-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Trường Kháng và ông Hạng Minh Thu.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Nhung, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 339/2023/TLST-HS ngày 08/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 346/2023/QĐXXST-HS ngày 23/11/2023, đối với bị cáo:
PHẠM VĂN N1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 24 tháng 8 năm 1979;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T và bà Đoàn Thị M; có vợ là Doãn Thị L (đã ly hôn) và có 01 con.
Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Q đinh tạm hoãn xuất cảnh (có mặt).
Bị hại: Anh Nguyễn Tiến L1, sinh năm 1999 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Lê Thị V, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ A, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)
Ông Nguyễn Tiến Q1, sinh năm 1979; trú tại: Tổ A, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị V, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ A, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Hùng C, sinh năm 1977, địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).
Người làm chứng: Anh Đinh Văn N, sinh năm 1984, địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Văn N1 (có giấy phép lái xe hạng E), là lái xe thuê có hợp đồng lao động với Hợp tác xã vận tải Chùa H được giao điều khiển xe ô tô khách, nhãn hiệu Samco, BKS 20B- 015.84 là xe của anh Vũ Hồng C1 góp vào Hợp tác xã vận tải Chùa H. Khoảng 03 giờ 50 phút, ngày 29/9/2022, Phạm Văn N1 điều khiển xe ô tô BKS 20B- 015.84 đi trên đường V hướng từ Q đi đường T, lúc này trời tối, mưa phùn, phương tiện tham gia giao thông vắng, không có đèn đường chiếu sáng. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ A phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, N1 điều khiển xe ô tô lùi vào ngõ A đường V để quay đầu xe về phía đường Q, sau khi lùi hết xe vào trong ngõ, N1 tiếp tục điều khiển xe tiến ra đường V để đi hướng đường Q. N1 biết ngõ 132 là đường không ưu tiên, đường V là đường ưu tiên (có biển báo). Trong quá trình điều khiển xe từ trong ngõ tiến ra, N1 quan sát thấy trên đường V hướng đường T có xe mô tô BKS 20B2-312.68 do anh Nguyễn Tiến L1 điều khiển đang tiến đến, N1 đã không nhường đường cho xe mô tô BKS 20B2-312.68 mà tiếp tục điều khiển xe ô tô tiến về phía trước dẫn đến xe mô tô BKS 20B2-312.68 va chạm phần cạnh bên trái đầu xe ô tô BKS 20B-015.84 khiến mô tô BKS 20B2-312.68 đổ xuống đường, anh L1 bị đập người vào thân xe ô tô rồi ngã xuống đường, tử vong.
- Hậu quả: Anh Nguyễn Tiến L1 bị đa chấn thương, tử vong tại hiện trường. Xe ô tô BKS 20B- 015.84 và xe mô tô BKS 20B2-312.68 bị hư hỏng.
- Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1648/KLGĐTT-KTHS ngày 25/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Nguyễn Tiến L1 bị đa chấn thương; gãy xương hàm trên, xương hàm dưới; gãy xương gò má trái; gãy xương đùi phải và trái, chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn, chảy tụ máu trong khoang ngực, chấn thương sọ não, vỡ xương trán, chảy tụ máu trong hộp sọ dẫn đến chết.
- Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn ngày 29/9/2022 tiến hành đo nồng độ cồn đối với Phạm Văn N1 là 0.00mg/l. Nồng độ cồn trong máu ngày 30/9/2022 của anh Nguyễn Tiến L1 là 55,68mmol/l.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định:
Nơi xảy ra tai nạn là đường V, mặt đường trải nhựa phẳng, rộng 9,10m, giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng, chia thành 2 chiều xe chạy riêng biệt, bên phải hướng đường Q đi đường thống nhất có biển báo số W.207b, vạch giảm tốc độ màu vàng, có ngõ A đường V được trải nhựa rộng 5,3m. Bên phải đường của ngõ A hướng ra đường V, bên phải đường Q đi đường T là khu dân cư, bên trái là đường tàu.
Điểm mốc mép đường chuẩn: Lấy hộp điện ký hiệu TTG2.5 nằm bên phải đường Q đi đường T. Lấy mép đường hướng đường Q đi đường T làm mép chuẩn. Mô tả theo thứ tự:
- Ký hiệu 1: Là vùng máu có kích thước (1,70 x 0,90) m không rõ hình, đo tâm của (1) vào mép chuẩn là 2,40m.
- Ký hiệu 2: Có xe mô tô BKS 20B2-312.68 đổ nghiêng phải, đầu xe quay hướng đường T, đuôi xe quay ra hướng Q, đo tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau vào mép chuẩn lần lượt là 2,85 và 2,60m. Đo tâm trục bánh sau của (2) đế tâm trục của (1) là 0,20m. Đo tâm trục bánh sau của (2) đến vạch giảm tốc độ là 16,40m.
- Ký hiệu 3: Là tử thi của Nguyễn Tiến L1 nằm trên xe mô tô BKS 20B2-312.68 đầu tử thi tại vị trí bên trái sườn xe phía sau xe mô tô BKS 20B2-312.68, chân phải của tử thi gác trên xe mô tô BKS 20B2-312.68. Đo đỉnh đầu và gót bàn chân phải của (3) vào mép chuẩn lần lượt là 2,95m và 2,90m. Đo đỉnh đầu (3) đến tâm trục bánh sau của (2) là 0,40m.
- Ký hiệu 4: Là vùng mảnh vỡ kích thước 3,0 x 1,70m đo tâm của (4) đến mép chuẩn là 3,35m. Đo tâm của (4) đến vạch sơn vàng giữa đường là 1,9m. Đo từ tâm của (4) đến trục bánh trước (2) là 0,40m. Đo tâm trục của (4) đến cột biển báo số W207b nằm trên đường V là 23,10m. Đo từ tâm của (4) đến biển báo số W208 nằm bên phải của ngõ 132 là 23,0m.
- Ký hiệu 5: Là xe ô tô BKS 20B-015.84 đang đỗ trên đường, đầu xe quay hướng mép trái đứng theo hướng đường Q đi đường T, đuôi xe quay vào ngõ A. Đo tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau bên trái của (5) vào mép chuẩn lần lượt là 1,50m và 4,6m. Đo tâm trục bánh trước trái của (5) đến tâm trục bánh trước của (2) là 1,6m. Đo từ tâm trục bánh sau trạm đến mốc là 2,50m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn:
- Đối với xe mô tô 20B2 – 312.68: Toàn bộ phần bánh lốp trước, vành xe, nan hoa bị bẹp, méo, gẫy, đẩy công từ ngoài vào tâm trục là đứt nhiều nan hoa; May ơ trước bên trái, phải bị vỡ kim loại KT (8x2) cm; Hai càng xe trước bị đẩy cong từ trước về sau, từ trái sang phải, càng xe trước bên phải bị gãy rời KT (8x12) cm; Chắn bùn trước bị gẫy khỏi vị trí ban đầu; Toàn bộ phần ốp nhựa đầu xe, đèn chiếu sáng, mặt nạ, đèn xi nhan, công tơ mét bị vỡ KT (45x50) cm; cánh yếm hai bên bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu; tay nắm bên trái, phải bị gãy khỏi vị trí ban đầu; phần sườn xe trái, phải và sau xe không có dấu vết va chạm. Về kỹ thuật an toàn: Phanh sau còn hiệu lực; bánh sau còn hơi; phanh trước, tín hiệu trước hỏng do tai nạn.
- Đối với xe ô tô 20B – 015.84: Phần tai xe trước trái có một vùng bong tróc sơn, rách kim loại, bẹp méo KT (115x142) cm, dấu vết có chiều từ trái sang phải; Đèn tín hiệu sườn bên trái bị bung bật khỏi vị trí ban đầu; toàn bộ phần đầu xe, sườn xe bên phải, sau xe, sườn phía sau bên trái không có dấu vết va chạm. Về kỹ thuật an toàn: Hệ thống bánh lốp còn hơi; đèn xi nhan, còi còn hiệu lực.
Thiệt hại về tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 273/KL-HĐĐGTS ngày 05/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS: 20B2-312.68 là 2.235.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe ô tô BKS 20B-015.84 là 2.000.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan Công an đã thu giữ 01 USB Kington màu đen lưu trữ đoạn video ghi lại dữ liệu vụ tai nạn. Tại bản kết luận giám định dữ liệu điện tử số 6703/KL-KTHS ngày 02/2/2023 của V1 Bộ C2, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung trong tệp video mẫu cần giám định. Tốc độ của xe mô tô BKS 20B2-312.68 tại thời điểm xảy ra tai nạn trong khoảng 69km/h đến 97 km/h.
Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn; biên bản khám nghiệm tử thi và các kết luận giám định đủ căn cứ để xác định nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông là do Phạm Văn N1 điều khiển xe ô tô khách nhãn hiệu Samco BKS 20B-015.84 tham gia giao thông trên đường V hướng từ đường Q đi đường T, do không tuân thủ quy tắc giao thông, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên nên dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 20B2 - 312.68 do anh Nguyễn Tiến L1 điều khiển. Hậu quả làm anh L1 tử vong tại hiện trường.
Tại cơ quan điều tra Phạm Văn N1 đã khai nhận toàn bộ sự việc. Lời khai nhận của N1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn; biên bản khám nghiệm tử thi và các kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 USB Kington màu đen lưu trữ file video vụ tai nạn. Hiện được niêm phong chuyển theo hồ sơ vụ án.
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu Samco, BKS 20B-015.84, số khung RN8K2125KG000039; số máy: D6CAGJ3039886, đã qua sử dụng; 01 bảo hiểm TNDS bắt buộc của xe ô tô BKS 20B-015.84; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA 0498145 của xe ô tô BKS 20B-015.84. Hiện đã trả lại cho ông Vũ Hồng C1 đại diện HTX vận tải Chùa H quản lý, sử dụng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20B2-213.68, số khung 125FY341207, số máy HCI2E7341234, đã qua sử dụng mang tên Nguyễn Tiến Đ.
Quá trình điều tra xác định anh Đ đã bán xe cho anh Nguyễn Tiến L1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lê Thị V là mẹ đẻ của anh L1 quản lý, sử dụng.
- 01 giấy phép lái xe hạng E số [...]; 01 giấy CMND số [...] đều mang tên Phạm Văn N1. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Về trách nhiệm dân sự: Phạm Văn N1 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Tiến L1 số tiền 50.000.000 đồng, bà Lê Thị Vân m đẻ của anh L1 là người đại diện hợp pháp của bị hại chấp nhận mức bồi thường trên không có yêu cầu, đề nghị gì.
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Bản cáo trạng số 339/CT-VKS-TPTN ngày 02/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Văn N1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn N1 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E số [...]; 01 giấy CMND số [...] đều mang tên Phạm Văn N1.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận: Khoảng 03 giờ 54 phút, ngày 29/9/2023, trên đoạn đường V thuộc tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Phạm Văn N1 (có giấy phép lái xe ô tô hạng E) điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 20B- 015.84 tham gia giao thông đi từ trong Ngõ A tiến ra đường V hướng đường Q đi đường T do không tuân thủ quy tắc giao thông, không nhường đường cho xe mô tô biển kiểm soát 20B2 -312.68 do anh Nguyễn Tiến L1 điều khiển đi trên đường V, là đường ưu tiên nên dẫn đến xe ô tô do N1 điều khiển và chạm với xe mô tô biển kiểm soát 20B2 -312.68 do anh L1 điều khiển. Hậu quả làm anh L1 tử vong tại hiện trường.
- [3] Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Kết quả khám nghiệm tử thi và khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 3, Điều 24 Luật Giao thông đường bộ và khoản 6, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Luật Giao thông đường bộ quy định:
Điều 24. Nhường đường tại nơi đường giao nhau
Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:
3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng đi nào tới.
- [4] Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a, L2 chết người.”
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- [5] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây tổn hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
- [6] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn, hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hại cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị tại địa phương, đồng thời, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người lần đầu phạm tội do lỗi vô ý.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm là phù hợp có căn cứ chấp nhận.
- [8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng, bà Lê Thị V là người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị nào khác. Ông Vũ Hồng C1 là chủ xe ô tô Biển kiểm soát 20B- 015.84 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại đối với ô tô 20B- 015.84. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- [10] Trong vụ án này, anh Nguyễn Tiến L1 là người điểu khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20B2-312.68 không có giấy phép lái xe, tham gia giao thông trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, chạy quá tốc độ dẫn đến tai nạn. Hành vi của anh L1 vi phạm khoản 8, 9, 11 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, sau tai nạn anh L1 tử vong tại hiện trường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý là phù hợp.
- [11] Về vật chứng vụ án: Trả lại cho Phạm Văn N1 01 giấy phép lái xe hạng E số [...]; 01 giấy CMND số [...] đều mang tên Phạm Văn N1.
- [12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn N1 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn N1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại Phạm Văn N1 01 giấy phép lái xe hạng E số [...]; 01 giấy CMND số [...] đều mang tên Phạm Văn N1.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 33 ngày 21/11/2023 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Hùng C vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 385/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 385/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
