|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 385/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 11 - 2023 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Lên
- Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 588/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 388/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Long Thị T - sinh năm 2004 (Xin xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Ông Phan Trung K - sinh năm 1992 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Long Thị T trình bày:
- - Về hôn nhân: Bà và ông Phan Trung K cưới nhau, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2023 tại UBND xã K, huyện T. Thời gian chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, bà và ông K đã sống ly thân 06 tháng nay. Do đó, bà yêu cầu được ly hôn với ông Phan Trung K.
- - Về con chung: Có 01 con chung là Phan Thị Ngọc Y, sinh ngày 21/02/2023, hiện bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, khi ly hôn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đồng thời, bà Long Thị T có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt bà tại tất cả các phiên họp giải quyết và phiên toà xét xử vụ án.
Đối với bị đơn ông Phan Trung K, quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng ông K vắng mặt và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Long Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Phan Trung K hiện đang cư trú tại địa chỉ ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng bị đơn là ông Phan Trung K vắng mặt, bà Long Thị T xin xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K được xác lập vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau theo quy định nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống, bà T xác định bất đồng quan điểm nên cuộc sống không hạnh phúc, đời sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên vợ chồng bà đã sống ly thân 06 tháng nay, do đó yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông K. Trong khi đó ông Phan Trung K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có văn bản ý kiến phản hồi, điều đó cho thấy ông K không có thiện chí để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của bà T và ông K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà Long Thị T, cho bà T ly hôn với ông Phan Trung K là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Long Thị T và ông Phan Trung K có 01 con chung là Phan Thị Ngọc Y, sinh ngày 21/02/2023, hiện đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, khi ly hôn bà T yêu cầu Tòa án giải quyết được tiếp tục nuôi dưỡng Phan Thị Ngọc Y đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Phan Thị Ngọc Y còn nhỏ (chưa được 12 tháng tuổi) nên rất cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ, bên cạnh đó ông K cũng không có ý kiến phản hồi về vấn đề yêu cầu nuôi con do bà T đặt ra và cũng không thể hiện ý kiến đối với vấn đề nuôi con, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T giao cháu Phan Thị Ngọc Y, sinh ngày 21/02/2023 cho bà Long Thị T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông Phan Trung K không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông K cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Long Thị T xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Phan Trung K thì vắng mặt và không có ý kiến gì về phần tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản, nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Long Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 53, Điều 56, 58, 69, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Long Thị T, cho bà Long Thị T ly hôn với ông Phan Trung K.
- Về con chung: Giao cháu Phan Thị Ngọc Y, sinh ngày 21/02/2023 cho bà Long Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.
Ông Phan Trung K không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà T.
- Về án phí:
- - Án phí hôn nhân và gia đình: Bà Long Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0007304 ngày 21/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
Bản án số 385/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 385/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn và nuôi con
