TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:385/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi
con chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nguyên
Bà Ngô Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 325/2024/HNGĐ-TLST ngày 13/6/2024, về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 437/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 303/2024/QĐ-ST ngày 11/9/2024 giữa:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Văn Xá, xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan.
Người được chị T ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Chị Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số B T, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn : Anh Vũ Văn H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.
(Chị T có quan điểm đề nghị vắng mặt; anh H vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 10/9/2001. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được hai con. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên năm 2012 chị đã sang Đài Loan lao động, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc, hai bên vẫn gọi điện và quan tâm đến các con. Tuy nhiên đến năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Từ năm 2020 đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về quan hệ con chung: Chị và anh H có 02 con chung Vũ Thị Mai L, sinh ngày 23/9/2003 và Vũ Thị Mỹ L1, sinh ngày 17/3/2007. Hiện nay cháu L đã trưởng thành, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu L1 hiện đang ở với anh H, ly hôn chị có nguyện vọng để anh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L1, chị cũng sẽ có trách nhiệm với con.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị T tự nguyện chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Do điều kiện công việc chị không thể về Việt Nam để tham gia tố tụng nên chị ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Bích N giao, nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án. Chị N đồng ý nhận ủy quyền của chị T, sau khi nhận văn bản chị đã thông tin cho chị T biết, chị T đã gọi điện thoại trực tiếp trình bày quan điểm với Tòa án. Cụ thể chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và giữ nguyên quan điểm ly hôn, nuôi con như đã trình bày, đồng thời chị đề nghị được giải quyết vắng mặt.
- Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H và cũng nhiều lần xuống gia đình anh Vũ Văn H để làm việc, tuy nhiên anh H không đến Tòa án làm việc và cũng không có quan điểm ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Tòa án đã làm việc với ông Vũ Văn T1 là bố đẻ của anh H, ông T1 cung cấp thông tin anh H làm nghề lái xe, sáng đi tối về, anh H đã biết chị T có đơn ly hôn, nhưng do công việc, nên anh không đến Tòa án làm việc. Ông T1 đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và đã thông tin cho anh H biết, quan điểm của anh H không đồng ý ly hôn, chị T đơn phương ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị T. Về con chung, hiện nay cháu Vũ Thị Mai L đã trưởng thành đang lao động ở nước ngoài, cháu Vũ Thị Mỹ L1 đang sinh sống cùng anh, nên anh có nguyện vọng được nuôi cháu L1, tự nguyện không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Anh H làm nghề lái xe, sáng đi tối về. Chị T đi nước ngoài lao động khoảng năm 2014, từ khi đi chị T có về Việt Nam một lần. Mâu thuẫn của anh H, chị T địa phương chưa phải hòa giải. Hiện tại anh H đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L1, còn cháu L đã đi nước ngoài. Nay chị T có đơn ly hôn, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Quá trình làm việc, ông T1 cung cấp: Mâu thuẫn giữa anh H, chị T xảy ra khoảng 2 năm gần đây, nguyên nhân do chị T sống ở nước ngoài thời gian dài, anh H và gia đình nhiều lần gọi điện, động viên chị T về Việt Nam để sinh thêm con, vợ chồng đoàn tụ nhưng chị T không về. Hiện cháu Vũ Thị Mỹ L1 đang học lớp 12, cháu thường xuyên đi học đến tối mới có nhà, cháu có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn.
- Lời khai ông Nguyễn Văn M là bố đẻ chị T xác định: Chị T đi nước ngoài từ năm 2014, từ khi đi chị T có về Việt Nam một lần. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh H, chị T là do mỗi người ở một nơi, 2 bên không tìm được tiếng nói chung. Nay chị T có đơn ly hôn, gia đình đề nghị Tòa án giải quyết dứt điểm ly hôn để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T được ly hôn anh H. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Vũ Thị Mỹ L1, sinh ngày 17/3/2007 cho anh Vũ Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con; Chị T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn nhân nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn H đều có hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện tại chị T đang sinh sống tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tài liệu của chị Nguyễn Thị T gửi về Tòa án bao gồm: Đơn ly hôn, bản tự khai đều được xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Do vậy, có căn cứ xác định nội dung các văn bản này thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của chị T.
Do không lấy được lời khai của anh H, Tòa án đã tống đạt văn bản qua người thân và niêm yết văn bản theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa anh H vắng mặt không có lý do, chị T có quan điểm được giải quyết vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 10/9/2001, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, hai bên thiếu sự chia sẻ, quan tâm dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh H. Thông qua gia đình anh H có quan điểm không đồng ý ly hôn, đề nghị giải quyết theo yêu cầu đơn phương của chị T. Xét thấy, chị T và anh H có thời gian dài sống xa nhau, anh H không đồng ý ly hôn nhưng không đến Tòa án để trình bày quan điểm và đưa ra giải pháp để đoàn tụ vợ chồng, thông qua gia đình anh H có quan điểm đề nghị giải quyết theo yêu cầu đơn phương của chị T. Kết quả xác minh tại gia đình cho thấy thực tế 2 năm gần đây anh H, chị T đã có mâu thuẫn. Chị T đi nước ngoài lao động từ năm 2014 và chỉ về Việt Nam thăm gia đình 1 lần, do vậy có thể thấy mâu thuẫn giữa anh H và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn H có hai con chung là Vũ Thị Mai L, sinh ngày 23/9/2003 và Vũ Thị Mỹ L1, sinh ngày 17/3/2007. Hiện cháu L đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Cháu L1 đang ở với anh H, mặc dù Tòa án không trực tiếp lấy được lời khai của anh H, không trực tiếp hỏi được ý kiến của cháu L1 nhưng thông qua gia đình anh H cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con. Cháu L1 cũng có nguyện vọng được ở với bố. Xét thực tế thì thấy, hiện nay chị T đang ở nước ngoài nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu L1 đang học cuối cấp và sống cùng bố nên để ổn định cuộc sống của cháu cần tiếp tục giao cháu L1 cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp.
- Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Mặc dù anh H không có quan điểm trình bày về yêu cầu cấp dưỡng nhưng để đảm bảo quyền lợi cho cháu L1, cần buộc chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con là 2.000.000 đồng/1 tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Nguyễn Thi T2 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Văn H.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Vũ Thị Mỹ L1, sinh ngày 17/3/2007 cho anh Vũ Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh H là 2.000.000 đồng/1 tháng, thời gian kể từ tháng 9/2024 cho đến khi cháu L1 tròn 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Kể từ khi anh H có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị T không thi hành khoản tiền trên, thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000795 ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị T còn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Vũ Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
6
Bản án số 385/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 385/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
