|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 385/2025/DS-PT
Ngày: 01 - 7 - 2025
V/v Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
- - Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Tấn Tặng;
- Ông Ngô Tấn Lợi.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Điểu – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 01 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 256/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025 về Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 359/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1950;
Địa chỉ: Số D, đường N, Tổ A, khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Hồng V là: Bà Nguyễn Thị Huyền V1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số C, đường N, Tổ B, khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 01/6/2023).
- Bị đơn: Trần Thị V2, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Tổ A, khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1941;
Địa chỉ: Tổ A, khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H là: Bà Trần Thị V2, sinh năm 1965. Địa chỉ liên hệ: Tổ G, Ấp C, phường M, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024).
2. Nguyễn Hồng Thúy V3, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Số D, đường N, Tổ A, khóm T, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị V2 là bị đơn và bà Nguyễn Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V trình bày:
Về nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Nguyễn Thị H chuyển nhượng cho bà vào ngày 10/6/1995, diện tích 55,5m² đất ở, có chiều dài 15 mét, chiều ngang 3,7 mét, có một cạnh giáp với đất còn lại của bà H. Việc chuyển nhượng hai bên có lập giấy “Đơn xin đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và “Bảng kê khai nguồn gốc” có thể hiện diện tích đất chuyển nhượng là 55,5m², chiều dài là 15 mét, chiều ngang là 3,7 mét, có sự chứng kiến ký tên xác nhận của những người giáp ranh đất là ông Nguyễn Văn T và ông Phạm Văn K (Nay đã chết). Bà đăng ký và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 28/9/1998, diện tích 55,5m² đất thổ, thuộc thửa 1249, tờ bản đồ số 03.
Tháng 8/2000 bà làm đơn xin phép xây dựng nhà ở với diện tích xây cất là chiều ngang 3,7m, chiều dài là 10m, tổng diện tích xây dựng là 37m² và đã được Phòng Xây dựng - Quản lý Đô thị thị xã C cấp giấy phép xây dựng số 57/GPXD ngày 09/8/2000 theo diện tích đã xin phép. Khi tiến hành đo đạc để xây dựng nhà thì chiều ngang đất phía sau đất bị vướng vào một phần mái nhà tắm của bà Nguyễn Thị H (Chủ đất cũ) nên bà có giảm chiều ngang xây dựng nhà còn lại 3,5m. Do đó, chiều ngang đất của bà còn dư 0,2m chưa được xây dựng là phần giáp ranh với bà H.
Ngày 22/8/2003 UBND thị xã C cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 59,4m², thửa 83, số tờ bản đồ 5. Như vậy, khi cấp lại giấy chứng nhận diện tích có chênh lệch so với diện tích ban đầu nhưng bà không có kiểm tra đối chiếu lại và giữ giấy chứng nhận sử dụng đến nay.
Hiện nay bà có nhu cầu tặng cho thửa đất nêu trên cho con là Nguyễn Hồng Thúy V3. Ngày 18/7/2022, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C có đến tiến hành khảo sát, đo đạc xác định ranh giới đất thì bà Trần Thị V2 đứng ra tranh chấp không đồng ý xác nhận theo ranh giới, vị trí và diện tích đất như đã thỏa thuận mua bán trước đây giữa bà với bà H.
Ngày 24/3/2023, Ủy ban nhân dân phường H thì bà mới biết được bà Nguyễn Thị H đã chuyển nhượng thửa đất giáp ranh đất của bà H cho bà Trần Thị V2 là cháu của bà H. Kết quả giải quyết hòa giải bà V2 không thừa nhận diện tích đất của bà H đã chuyển nhượng cho bà.
Vì vậy, bà yêu cầu bà Trần Thị V2 trả lại cho bà phần đất lấn chiếm ngang 0,2m chiều dài 15m, diện tích là 3m² thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 5, tại số D, Tổ A, đường N, khóm T, phường H, thành phố C. Bà xác định ranh đất giữa đất của bà với đất bà V2 là các đoạn thẳng nối các mốc Q, A, H theo sơ đồ đo đạc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ngày 24/02/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Đối với yêu cầu của bà V2 thì bà không đồng ý.
- Bị đơn bà Trần Thị V2 trình bày:
Bà có phần đất tiếp giáp với đất của bà V3, nguồn gốc đất là của bà Nguyễn Thị H (Là dì của bà V2) chuyển nhượng cho bà vào năm 2015, diện tích 87,6m², thuộc thửa 219 (Thửa mới 930) và nhập vào thửa 220, diện tích 18,5m², tổng diện tích là 106,1m². Bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/8/2022, diện tích 106,1m², thuộc thửa 930, tờ bản đồ số 5.
Bà xác định ranh đất giữa đất của bà với đất bà Hồng V3 trong phạm vi các mốc 9, M, D, C, 1A, 4, 2A, B về C là ranh giữa hai bên theo Sơ đồ đo đạc ngày ngày 24/02/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Bà yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị Hồng V và bà Nguyễn Hồng Thúy V3 di dời căn nhà trả lại đất cho bà tổng cộng 24,78m², thuộc một phần thửa 930, tờ bản đồ số 05, tại phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Đối với việc bà Hồng V3 yêu cầu xác định ranh đất giữa hai bên là các đoạn thẳng nối các mốc Q, A, H thì bà không đồng ý. Việc bà Hồng V3 xác định ranh như trên có một phần tài sản của bà. Căn cứ xác định ranh của bà là căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà và trích lục bản đồ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị H trình bày:
- + Chị Nguyễn Hồng T1 V là người trong hộ bà Hồng V trình bày:
Bà thống nhất theo lời trình bày của bà V2. Năm 1998 bà có ký hồ sơ kê khai nguồn gốc đất cho bà Nguyễn Thị Hồng V để đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, nhưng bà không có xem diện tích bà V kê khai là bao nhiêu và vị trí đất bà V nhận chuyển nhượng không đúng với thực tế.
Chị thống nhất theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Hồng V, chị không đồng ý theo yêu cầu của bà V2.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã xử:
- [1] Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng V xác định ranh đất giữa đất bà Nguyễn Thị Hồng V và đất bà Trần Thị V2 là các đoạn thẳng nối giữa các mốc Q, A, 12B đến mốc H1
- [2] Về ranh chung giữa đất bà Nguyễn Thị Hồng V và bà Trần Thị V2 là các đoạn thẳng nối giữa các mốc Q, A, 12B đến mốc H1
- [3] Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị V2.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/4/2025 bà Trần Thị V2 và bà Nguyễn Thị H làm đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm. Bà V2 và bà H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh theo hướng đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho hai bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:
- + Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị V2 và bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguồn gốc đất bà Nguyễn Thị Hồng V đang sử dụng là nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị H theo “Đơn xin đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 10/6/1995 và “Bảng kê khai nguồn gốc đất” thể hiện đất có chiều ngang là 3,7 mét, chiều dài là 15 mét, diện tích là 55,5m² giáp với phần đất còn lại của bà H, có sự chứng kiến ký tên xác nhận của những người giáp ranh đất là ông Nguyễn Văn T và ông Phạm Văn K (Đã chết), bà V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/9/1998 thuộc thửa 1249, tờ bản đồ số 3. Ngày 09/8/2000 bà V được cấp giấy phép xây dựng số 57/GPXD ngày 09/8/2000 theo diện tích đã xin phép và bà V đã cất nhà trên phần diện tích đất trên. Ngày 22/8/2003 UBND thị xã C cấp đổi lại giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho bà V diện tích 59,4m², thửa 83, số tờ bản đồ 5 và sử dụng xây nhà ở cho đến nay.
[2] Nguồn gốc đất bà Trần Thị V2 đang sử dụng là của bà Nguyễn Thị H (Là dì bà V2) chuyển nhượng cho bà V2 vào năm 2015, diện tích 87,6m² thửa cũ 219 (Thửa mới 930) và nhập vào thửa 220 diện tích 18,5m², tổng diện tích đất bà V2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 106,1m² thuộc thửa 930, tờ bản đồ số 5, cấp ngày 11/8/2022. Khi nhận chuyển nhượng và nhập thửa bà V2 cũng không cắm lại ranh giữa hai bên và không có những người giáp ranh ký xác nhận.
Khi bà H chuyển nhượng đất cho bà V năm 1995 và chuyển nhượng đất cho bà V2 năm 2015 thì các bên cũng không có sử dụng vật gì để làm ranh đất cho hai bên. Khi bà V cất nhà bà H, bà V2 đều biết nhưng không tranh chấp. Việc bà V2 xác định ranh đất theo quyền sử dụng đất của bà V2 hiện nay và theo trích lục bản đồ nhưng các chứng cứ này không thể hiện ranh đất tại vị trí như bà xác định. Ngoài ra, các trụ ranh bà V2 xác định là những trụ mới được xác lập và không được bên bà V thừa nhận.
[3] Căn cứ vào “Bảng kê khai nguồn gốc đất” được bà H thừa nhận là bà có ký tên cho bà V đăng ký quyền sử dụng đất thể hiện nội dung:
“Đất do cha mẹ để lại con hưởng. Cha Nguyễn Văn S đã chết năm để lại phần đất cho con là Nguyễn Thị H thừa hưởng. Nay tôi đồng ý nhượng lại phần đất chiều dài 15m, chiều ngang 3,7m cho Nguyễn Thị Hồng V sử dụng và tôi có nhận tiền của Nguyễn Thị Hồng V để làm hương khói cúng ông, bà”.
Căn cứ vào Sơ đồ đo đạc ngày 24/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thì vị trí, diện tích đất theo bà V xác định đất bà chuyển nhượng của bà H trong phạm vi các mốc 2, 3, 1A, 4, 2A, H, A, Q, 2 có diện tích là 55,7m² và chiều ngang của đất là 3,7m.
Từ đó cho thấy, bà V xác định ranh giới và vị trí đất của bà phù hợp với diện tích đất mà bà chuyển nhượng của bà H nên bà yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất của bà với đất của bà V2 là các đoạn thẳng nối liền các mốc Q, A, H là có căn cứ.
Tuy nhiên, qua xem xét, thẩm định tại chỗ thì ranh đất mà bà V xác định có vướng một phần vào vách tường của bà V2 trong phạm vi các mốc 10B, 12B, 13B về 10B diện tích 0,3m². Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà V, xác định ranh giới quyền sử dụng đất của bà V với bà V2 là các đoạn thẳng nối liền các mốc Q, 10B, 12B, A là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những cơ sở nêu trên xét thấy, kháng cáo của bà V2 và bà H là không có căn cứ để chấp nhận.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm bà V2 và bà H cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[4] Xét ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà V2 và bà H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Do giữ nguyên Bản án sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148, Điều 91, Điều 157, Điều 165, Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 31, 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 175 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của và Trần Thị V2 và bà Nguyễn Thị H.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng V.
- Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất bà Nguyễn Thị Hồng V với đất bà Trần Thị V2 là các đoạn thẳng nối liền các mốc Q, 10B, 12B, H1
Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất, tài sản của bên nào lấn chiếm ranh đất phải được di dời ra khỏi ranh đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2024, ngày 06/8/2024, ngày 24/02/2025 của Tòa án và Sơ đồ đo đạc ngày 24/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp)
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị V2.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bà Trần Thị V2 phải chịu là 300.000 đồng và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Trần Thị V2 đã đóng số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012737 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Bà Trần Thị V2 được nhận lại 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0012496 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Trần Thị V2 và bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi nên được miễn theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 7.836.000 đồng:
Bà Nguyễn Thị Hồng V và bà Trần Thị V2 mỗi người phải chịu là 3.918.000 đồng. Trong đó bà Nguyễn Thị Hồng V đã tạm ứng và đã chi xong là 6.636.000 đồng, bà Trần Thị V2 đã tạm ứng và đã chi xong 1.200.000 đồng. Do đó, bà Trần Thị V2 có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng V số tiền là 2.718.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi Nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Sỹ Danh Đạt |
Bản án số 385/2025/DS-PT ngày 01/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 385/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ranh giới QSDĐ
