Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 385/2024/DS-PT

Ngày: 25/7/2024

V/v. tranh chấp quyền sử dụng đất và

hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Thắng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phan Nam;

Bà Đặng Thị Thơm.

Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Trọng Thuyết, Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 562/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 7721/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, địa chỉ: xóm F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị T, địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Đình L1, thuộc Công ty L6, Đoàn Luật sư tỉnh H. Có mặt.

Bị đơn: Ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2, cùng địa chỉ: xóm H, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Đều có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn L3 - Chủ tịch UBND xã. Có mặt.
  • - Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc B - Phó Trưởng phòng TN&MT huyện. Có mặt.
  • - Bà Bạch Thị T1 (đã chết); Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
  • + Chị Nguyễn Thị T2, địa chỉ: E quốc lộ A, phường L, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị N, địa chỉ: E quốc lộ A, phường L, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị Hà G và anh Nguyễn Huy H1, cùng địa chỉ: xóm F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Anh H có mặt; chị N1, chị Q, chị G, anh H1 đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Trần Khắc B1 có một thửa đất tự khai hoang tại Cửa Đền dùng làm đất canh tác hoa màu, trồng cây ngắn ngày, sau này giao lại cho bà Trần Thị H2 (con gái ông B1) sử dụng. Đến năm 1986, bà Trần Thị Hạ T3 lại thửa đất nói trên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn L (có giấy xác nhận tặng cho), diện tích của thửa đất nói trên khoảng 10 thước đất (tương đương 330m²), gia đình ông L đã sử dụng để trồng màu, bắc mạ. Đến năm 1993, gia đình ông L được HTX M1 giao thêm 01 thửa đất trưa mạ (là thửa đất dùng để ươm mầm lúa nước để thực hiện cấy ở các ruộng sau theo tập quán canh tác của địa phương) sát cửa đền Y với diện tích 195m² (có phản ánh trên sơ đồ quản lý đất đai của xóm và số 05, trang số 28). Gia đình ông L đã tiến hành nhập 02 thửa đất lại và sử dụng để bắc mạ và trồng rau khoai cùng các loại cây ngắn ngày khác, sử dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp với ai, khoảng năm 2012 đến năm 2013 gia đình cũng tiến hành đổ đất nâng mặt bằng (thuê anh Đặng Đức H3, trú tại xã P đổ đất). Gia đình ông L cũng chưa làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên (tổng 525m²).

Năm 2018 gia đình ông L biết được UBND xã P xây dựng hồ sơ cấp đất cho ông Đặng Minh C, bà Nguyễn Thị L2 chồng lấn lên phần đất của gia đình ông L. Ngày 09/3/2018 gia đình ông L có làm đơn khiếu nại việc UBND xã P về việc Ủy ban đã bất chấp pháp luật tự ý xây dựng hồ sơ cấp đất cho ông C, bà L2 chồng lấn lên phần đất của gia đình ông L được cấp từ năm 1993 tại xứ đền Y, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên UBND xã P lại ra thông báo số: 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại. Không đồng ý với thông báo của UBND xã P, gia đình ông L đã nhiều lần làm đơn kiến nghị, phản ánh sự việc này nhưng đều không được giải quyết thỏa đáng.

Ngày 09/3/2021, UBND huyện H ra quyết định số 677/QĐ-UBND về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY342253 ngày 09/3/2021 cho ông Đặng Minh C và vợ là bà Nguyễn Thị L2 thuộc thửa đất số 144, tờ bản đồ địa chính 63, địa chỉ: xóm F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh với diện tích 639,7m². Việc UBND huyện tự ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C bà L2 là trái quy định của pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông L.

Ngày 09/12/2021, UBND xã P, huyện H đã tiến hành hòa giải về tranh chấp đất đai giữa gia đình ông L và ông Đặng Minh C, nhưng do ông Đặng Minh C vắng mặt, nên kết quả hòa giải không thành.

Vì những lẽ trên, ông L làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết những vấn đề sau:

  1. Yêu cầu ông Đặng Minh C, bà Nguyễn Thị L2 trả lại phần diện tích bị cấp chồng lấn tương ứng là 525m² thuộc thửa đất số 144, tờ bản đồ địa chính số 63, địa chỉ: xóm F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cho gia đình ông L.
  2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 thuộc thửa đất số 144, tờ bản đồ địa chính số 63, địa chỉ xóm F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, với diện tích là 639,7 m² do UBND huyện H bất chấp pháp luật cấp GCNQSDĐ không đúng đối tượng và đang trong thời gian đang tranh chấp.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 trình bày:

Năm 2001 vợ chồng ông được UBND xã P cấp 01 thửa đất tại Đền Y thuộc thôn F, xã P, huyện H với diện tích 910m², cụ thể: Đông giáp đền Y 13m, Tây giáp vườn ông L4 15m, Nam giáp chợ 65m, Bắc giáp đồng trưa mạ 65m. Khi đó ông có đơn xin cấp đất và Chủ tịch UBND xã có bút phê: “UBND xã nhất trí đề nghị trên cấp cho ông Đặng Minh C ô đất tại khu vực đền Y”; ngày 01/6/2001, ông đã nộp 300.000 đồng lệ phí cấp đất vườn ở cho UBND xã P.

Nguồn gốc đất là vùng hoang hóa do UBND xã quản lý, đây là vùng đất tâm linh của Đền Y, sau khi đã xây dựng chợ dân sinh nhưng không thành nên xã có kế hoạch dắm dân cư và ông đã làm đơn xin cấp đất, nộp lệ phí đầy đủ. Năm 2001 khi UBND xã cấp cho ông C đang còn rất nhiều cây tro, cây cọ cổ thụ và các cây khác mọc um tùm. Quá trình 11 năm sử dụng thửa đất ông đã chặt phá cây cối và đổ đất 3 đợt để nâng mặt bằng, xây kè đá hộc, xi măng, không ai tranh chấp hay có ý kiến gì. Năm 2012 thực hiện quyết định 2005 của UBND tỉnh về quy định cấp GCNQSD đất, nhà ở cho hộ gia đình thuộc diện giao đất sai thẩm quyền, ông đã lập hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất thì ông L tranh chấp với ông, từ đó gửi đơn từ đi các cấp các ngành yêu cầu giải quyết tranh chấp. Từ năm 2012 đến nay xã, huyện đã tổ chức làm việc với gia đình ông L rất nhiều lần nhưng gia đình ông L không đưa được tài liệu gì chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của ông L. Việc gia đình ông L đổ đất vào khoảng năm 2015, ngay sau khi biết ông L đổ đất xe đầu tiên ông đã báo UBND xã và UBND xã đã yêu cầu ông L chấm dứt việc đổ đất.

Ngày 09/3/2021 vợ chồng ông được UBND huyện cấp GCNQSD đất số CY 342253 với diện tích 639,7m². Gia đình ông được cấp đất đúng trình tự thủ tục quy định, không lấn chiếm đất của gia đình ông L. Vì vậy ông bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn H trình bày ý kiến của anh và ý kiến của những người uỷ quyền cho anh:

Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Khi anh còn nhỏ đã chứng kiến bố mẹ canh tác, trồng rau, nuôi gà trên thửa đất tranh chấp, năm 2012, 2013 gia đình anh có tiến hành đổ đất nâng mặt bằng.

Tại báo cáo số 48/BC-UBND ngày 20/4/2023 của UBND xã P, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện UBND xã P – Ông Võ Văn L3 trình bày:

UBND xã P không đồng ý với những yêu cầu của nguyên đơn, vì: Thửa đất của ông Đặng Minh C được UBND xã P giao năm 2001 có nguồn gốc là đất hoang hóa thuộc vùng Đền Y do UBND xã quản lý. Theo kết quả đo đạc bản đồ địa chính năm 2013, thửa đất UBND xã giao cho ông Đặng Minh C là thửa đất số 144, Tờ bản đồ số 63; tại thôn F, xã P với diện tích 639,7m². Theo hồ sơ cấp GCNQSD đất do UBND xã P xây dựng thể hiện: Ngày 22/4/2001, ông Đặng Minh C làm “Đơn xin cấp quyền sử dụng đất” tại thửa đất có vị trí cụ thể: Phía Bắc giáp đồng trưa mạ; phía Nam giáp ốt chợ; phía Đông giáp đền Y; phía Tây giáp đất ông L4 xóm 9, xã P (Tại thời điểm làm đơn xin cấp đất, ông C đang là công chức văn hóa xã, đã lập gia đình nhưng ở chung với cha mẹ); ngày 01/6/2001, ông Phạm Xuân L5 (nguyên Chủ tịch UBND xã) có bút phê phía dưới đơn của ông C với nội dung: “U đề nghị trên cấp cho ông Đặng Minh C ô đất tại khu vực đền Y”; ngày 01/6/2001, ông C đã nộp 300.000 đồng lệ phí cấp đất vườn ở cho UBND xã P.

Sau khi nhận được đơn đề nghị cấp GCNQSD đất của ông Đặng Minh C, tháng 11/2012 UBND xã đã xây dựng hồ sơ đề nghị UBND huyện cấp GCNQSD đất theo Quyết định 2005/2012/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh. Tuy nhiên, quá trình thẩm định hồ sơ, UBND huyện nhận được phản ánh của ông Nguyễn Văn L cư trú tại thôn F, xã P đề nghị UBND xã P tạm dừng việc cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C vì đang có tranh chấp. Do đó thửa đất của ông Đặng Minh C không thực hiện cấp giấy chứng nhận QSD đất theo Quyết định số 2005/2012/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh.

Đến ngày 09/3/2018, ông Nguyễn Văn L tiếp tục làm đơn khiếu nại việc UBND xã P xây dựng hồ sơ cấp đất cho ông C trùng lên đất của gia đình ông. Để giải quyết khiếu nại của ông L, Chủ tịch UBND xã P đã giao cán bộ chuyên môn liên quan kiểm tra, tham mưu giải quyết. Trên cơ sở kết quả xác minh lấy ý kiến của cán bộ qua các thời kỳ và những người cao tuổi gồm các ông Phạm Xuân L5, ông Trần Khắc N2, ông Nguyễn Viết T4, ông Đặng Văn T5 (có biên bản xác minh) đều khẳng định thửa đất đang tranh chấp không phải của ông Nguyễn Văn L. UBND xã có báo cáo số 09/BC- UBND ngày 09/02/2018 về việc giải quyết đơn thư.

Về phía ông Nguyễn Văn L không cung cấp được hồ sơ, tài liệu giấy tờ liên quan đến thửa đất ông L khiếu nại để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình; Căn cứ quy định của pháp luật, Chủ tịch UBND xã P đã ban hành Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông L. Nhưng ông Nguyễn Văn L không đồng ý với nội dung Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 của Chủ tịch UBND xã P; ngày 02/10/2019 ông Nguyễn Văn L, có đơn khiếu nại đề nghị Chủ tịch UBND huyện giải quyết. Để có cơ sở xử lý đơn của ông L, Chủ tịch UBND huyện đã giao Phòng T7 chủ trì, phối hợp với Thanh tra huyện và Phòng Tư pháp kiểm tra, xác minh, tham mưu (có biên bản làm việc ngày 10/4/2020); sau khi xem xét kết quả kiểm tra, rà soát hồ sơ liên quan cho thấy ông Nguyễn Văn L không cung cấp được các hồ sơ, tài liệu, giấy tờ hợp pháp liên quan đến thửa đất khiếu nại và không sử dụng đất ổn định trên thửa đất khiếu nại. Căn cứ khoản 2 Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011, thì việc khiếu nại của ông Nguyễn Văn L không đủ điều kiện thụ lý giải quyết. Theo đó, ngày 31/12/2019, Chủ tịch UBND huyện đã ban hành Văn bản số 2487/UBND-TNMT trả lời ông Nguyễn Văn L với nội dung: Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 của Chủ tịch UBND xã P về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông L là đúng quy định của pháp luật.

Về trình tự xây dựng, xét duyệt, thẩm định hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C: Ngày 10/8/2020, ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 có đơn đề nghị cấp GCNQSD đất và đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất đối với thửa đất nói trên. Sau khi tiếp nhận đơn và xem xét các hồ sơ liên quan, UBND xã P đã tổ chức lấy ý kiến dân cư, họp Hội đồng Tư vấn đất đai của xã và thực hiện các thủ tục theo quy định về xây dựng hồ sơ đề nghị UBND huyện cấp GCNQSD đất cho gia đình ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2, cụ thể như sau: Ngày 26/8/2020, UBND xã P tổ chức kiểm tra thực địa và họp lấy ý kiến của những người sử dụng đất cùng thời điểm tại khu dân cư; Ngày 15/9/2020, Hội đồng tư vấn Đ2, đề nghị cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C. Từ ngày 15/9 đến ngày 30/9/2020, UBND xã đã thực hiện niêm yết công khai kết quả họp xét của Hội, nguồn gốc, quá trình, hiện trạng sử dụng đất liên quan đến thửa đất ông Đặng Minh C đề nghị cấp GCNQSD đất. Quá trình niêm yết công khai, UBND xã không nhận được ý kiến phản ánh nào của tổ chức và công dân liên quan đến việc xét cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C. Ngày 30/9/2020, UBND xã đã lập biên bản kết thúc việc công khai và xác nhận hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C. Ngày 10/11/2020, U1 Tờ trình đề nghị cấp GCNQSD đất và đề nghị cho phép ông Đặng Minh C được chuyển mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở đối với thửa đất nêu trên. Xét đề nghị của UBND xã P; ý kiến thẩm định của Văn phòng Đ3 Chi nhánh H4 - Vũ Quang và căn cứ các quy định của pháp luật liên quan; ngày 30/12/2020, Phòng T7 đã có Tờ trình số 1448/TTr-TNMT trình UBND huyện công nhận QSD đất trồng cây lâu năm và cho phép ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở 100,0m² .

Theo đó, ngày 21/01/2021, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 177/QĐ-UBND về việc công nhận quyền sử dụng đất và cho phép ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở 100,0m².

Sau khi gia đình ông Đặng Minh C hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định (nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất 100,0m2 từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở), UBND huyện đã cấp GCNQSD đất CY 342253 ngày 09/3/2021, với diện tích 639,7 m2 (trong đó, đất TCLN chuyển sang đất ở: 100 m2; đất trồng cây lâu năm 539,7 m2) cho gia đình theo quy định.

Như vậy, năm 2001, UBND xã P giao đất cho ông C là thuộc trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền; tuy nhiên, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSD đất gia đình ông Đặng Minh C chưa làm nhà ở, nên căn cứ quy định tại Khoản 3, Điều 23, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ và Khoản 19, Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017, UBND huyện công nhận đất trồng cây lâu năm cho ông Đặng Minh C và để sử dụng đất vào mục đích đất ở ông Đặng Minh C đã nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định. Quá trình xây dựng hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C, UBND xã P đã niêm yết, công khai kết quả xét duyệt và hồ sơ liên quan (15 ngày) và không nhận được ý kiến phản ảnh của các tổ chức, cá nhân nào. Vì vậy, việc UBND huyện cấp GCNQSD đất số CY 342253 cho ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 đảm bảo đúng với các quy định của pháp luật về đất đai hiện hành.

Tại sổ 05 về quản lý đất đai của xã có thể hiện hộ gia đình ông L có 01 thửa đất nhưng không phải là thửa đất tranh chấp.

Tại công văn số 939/UBND-TNMT ngày 26/4/2023 của UBND huyện H, bản trình bày ý kiến, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của UBND huyện H trình bày:

Thửa đất ông Đặng Minh C được UBND xã P giao năm 2001 có nguồn gốc là đất hoang hóa thuộc vùng đền Y do UBND xã quản lý. Ngày 22/4/2001, ông Đặng Minh C làm “Đơn xin cấp quyền sử dụng đất” tại thửa đất có vị trí cụ thể: Phía Bắc giáp đồng trưa mạ; phía Nam giáp ốt chợ; phía Đông giáp đền Y; phía Tây giáp đất ông L4 xóm 9, xã P; ngày 01/6/2001, ông Phạm Xuân L5 (nguyên Chủ tịch UBND xã) có bút phê phía dưới đơn của ông C với nội dung: “U đề nghị trên cấp cho ông Đặng Minh C ô đất tại khu vực đền Y”; ngày 01/6/2001, ông C đã nộp 300.000 đồng lệ phí cấp đất vườn ở cho UBND xã P. Tháng 11/2012, ông C có đơn đề nghị cấp GCNQSD đất theo Quyết định 2005/2012/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh. Tuy nhiên, quá trình xây dựng hồ sơ, UBND xã P nhận được phản ánh của hộ ông Nguyễn Văn L đề nghị UBND xã P tạm dừng việc cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C vì đang có tranh chấp. Do đó, UBND xã chưa trình hồ sơ cấp GCNQSD đất đến cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra, giải quyết đơn của ông L theo quy định.

Năm 2018, ông Nguyễn Văn L cùng vợ là bà Bạch Thị T1 có đơn khiếu nại UBND xã P xây dựng hồ sơ cấp đất cho ông C trùng lên đất của gia đình ông. Để giải quyết khiếu nại của ông L, Chủ tịch UBND xã P đã giao cán bộ chuyên môn liên quan kiểm tra, tham mưu giải quyết. Trên cơ sở kết qủa xác minh và các tài liệu ông L cung cấp; căn cứ quy định của pháp luật, Chủ tịch UBND xã P đã ban hành Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông L. Không đồng ý với nội dung Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 của Chủ tịch UBND xã P. Ngày 02/10/2019, ông Nguyễn Văn L, có đơn khiếu nại đề nghị Chủ tịch UBND huyện giải quyết. Để có cơ sở xử lý đơn của ông L, Chủ tịch UBND huyện đã giao Phòng T7 chủ trì, phối hợp với Thanh tra huyện và Phòng Tư pháp kiểm tra, xác minh, tham mưu giải quyết, trả lời công dân theo đúng quy định; sau khi xem xét kết quả kiểm tra, rà soát hồ sơ liên quan cho thấy ông Nguyễn Văn L không cung cấp được các hồ sơ, tài liệu, giấy tờ hợp pháp liên quan đến thửa đất khiếu nại và chưa từng sử dụng thửa đất khiếu nại nói trên. Căn cứ khoản 2 Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011, thì việc khiếu nại của ông Nguyễn Văn L không đủ điều kiện thụ lý giải quyết. Theo đó, ngày 31/12/2019, Chủ tịch UBND huyện đã ban hành Văn bản số 2487/UBND-TNMT trả lời ông Nguyễn Văn L với nội dung: Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 của Chủ tịch UBND xã P về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông L là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, không có việc tranh chấp đất đai giữa hộ ông Nguyễn Văn L (vợ là bà Bạch Thị T1) và hộ ông Đăng Minh C1 tại thửa đất nói trên.

Ngày 10/8/2020, ông C1 có đơn đề nghị cấp GCNQSD đất đối với thửa đất nói trên. Sau khi tiếp nhận đơn của ông C1 và xem xét các hồ sơ liên quan, UBND xã P đã tổ chức lấy ý kiến dân cư, họp Hội đồng tư vấn xét đề nghị cấp GCNQSD đất của xã, niêm yết, công khai kết quả xét duyệt và hồ sơ liên quan (15 ngày) và không nhận được ý kiến phản ảnh của các tổ chức, cá nhân. Theo đó, UBND xã P đã xây dựng hồ sơ đề nghị UBND huyện cấp GCNQSD đất cho hộ ông C1 theo quy định. Xét đề nghị của UBND xã P và trên cơ sở kết quả thẩm định của Văn phòng Đ3 Chi nhánh H4 - Vũ Quang và phòng Tài nguyên và Môi trường, ngày 09/3/2021, UBND huyện ban hành Quyết định số 677/QĐ-UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 342253 cho ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 tại Thửa đất số 144, Tờ bản đồ số 63 (thôn F, xã P).

Đối chiếu theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành thì việc UBND huyện cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 là đúng quy định. Do đó, việc ông Nguyễn Văn L yêu cầu ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 trả lại diện tích bị cấp chồng lấn khoảng 525 m2 thuộc thửa đất số 144, tờ bản đồ địa chính số 62 tại thôn F, xã P cho nguyên đơn và yêu cầu hủy GCNQSD đất số CY 342253 mang tên ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 do UBND huyện H cấp ngày 09/3/2021 là không có căn cứ.

Ý kiến của người làm chứng bà Trần Thị H2:

Bà là con ông Trần Khắc B1 (đã chết năm 1995), khi còn sống ông B1 có khai hoang 01 thửa đất màu nằm kề đất trưa mạ tại đền Y, sau đó ông B1 để lại cho bà H2 canh tác, quá trình sử dụng đất bà có trồng cây khoai, vừng. Thửa đất này gia đình bà tự khai hoang, không được ai cấp, quá trình sử dụng cũng không đóng nộp thuế. Đến khoảng năm 1986 bà chuyển nơi ở nên để lại thửa đất này cho ông L canh tác, bà có thấy ông L trồng khoai trồng vừng khoảng vài năm, còn sau này bà đi ở nơi khác nên không biết cũng không chứng kiến việc tranh chấp giữa gia đình ông L và gia đình ông C.

Ý kiến của người làm chứng ông Lê Văn Đ:

Ông là người cùng xóm với ông Nguyễn Văn L, về nguồn gốc thửa đất của ông L hiện đang tranh chấp, năm 1993 những người dân ở xóm H cũ đều được cấp đất trưa mạ tại đền Y, trong đó có ông và ông L, sau này khi làm đường mòn Hồ Chí Minh thì thửa đất của ông bị thu hồi. Về thửa đất tranh chấp giữa ông L với ông C, ông chỉ biết ông L có được cấp 01 thửa đất trưa mạ, quá trình sử dụng ông không nắm rõ vì thửa đất của ông và ông L được cấp cách xa nhau, còn việc tranh chấp với ông C ông chỉ nghe nói chứ không biết cụ thể.

Ý kiến của người làm chứng ông Đoàn T6:

Từ năm 2005 đến năm 2010 ông làm xóm trưởng xóm H (nay là xóm F) xã P, huyện H, Hà Tĩnh, trước đó khoảng năm 1993 người dân ở xóm H cũ đều được cấp đất trưa mạ, mỗi hộ khoảng 200m². Ông có chứng kiến việc ông C đổ đất thì bị gia đình ông L ngăn cản, ông L đổ đất thì bị ông C ngăn cản. Theo ông thửa đất tranh chấp là của ông L

Ý kiến của người làm chứng ông Đặng Đức H3:

Khoảng năm 2012, 2013 gia đình ông L bà T1 có thuê tôi đổ đất tại thửa đất tranh chấp, sau đó bị ông C bà L2 ngăn cản.

Ý kiến của người làm chứng ông Nguyến Viết V:

Trước đây ông là xóm phó kiêm công án xóm 8 cũ xã P, ông L có thửa đất trưa mạ nằm sát thửa đất trưa mạ của tôi tại xứ cửa Đền X 6 xã P, ông L canh tác trên thửa đất trưa mạ được cấp và sử dụng thửa đất của bà Trần Thị Hạ T3 cho. Tôi có chứng kiến việc ông Đặng minh C đổ đất, sau đó vợ chồng ông L ra can ngăn.

Ý kiến của người làm chứng ông Đặng Tiến P:

Ông khẳng định ông Trần Khắc B1 có khai hoang 01 thửa đất tại C vì ông là cháu ông B1 và là xóm trưởng xóm 9 quản lý nhân hộ khẩu gia đình ông B1 bà H2. Sau đó ông B1 chuyển lại cho con gái là bà Trần Thị H2, sau đó bà H2 chuyển lại cho ông L sử dụng.

Ý kiến của người làm chứng ông Phạm Xuân L5:

Từ năm 1989-2004 ông là Chủ tịch UBND xã P. Trong quá trình giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã P, năm 2001 do làm đường mòn Hồ Chí M có cải lại con đường Đ nên có mấy ô đất cấp dắm dân. Tại thời điểm đó ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 có đơn xin cấp đất nên Ủy ban đã họp xét đề nghị cho ông C và bà loan 01 ô đất tại xóm F xã P với diện tích 910m² có tứ cận cụ thể, tại thời điểm cấp đất cho vợ chồng ông C là đất hoang không cây cối, không ai sản xuất. Đến năm 2012 ông Nguyễn Văn L tranh chấp nên xã chưa làm thủ tục cấp GCNQSD đất. Vợ chồng ông L khiếu kiện mấy năm sau, UBND xã, huyện trả lời ông nhiều lần. Đến năm 2021 vợ chồng ông C được cấp GCNQSD đất.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 9 Điều 26, khoản 1, 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 100 Luật đất đai; Điều 2 Luật người cao tuổi, điểm đ Điều 12, 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:

  • Yêu cầu ông Đặng Minh C, bà Nguyễn Thị L2 trả lại phần diện tích bị cấp chồng lấn tương ứng là 525m² thuộc thửa đất số 144, tờ bản đồ địa chính số 63, địa chỉ: xóm F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cho gia đình ông L.
  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CY 342253 mang tên ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 do UBND huyện H cấp ngày 09/3/2021.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2023 nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến: Về tố tụng, kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H là hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn H, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng, sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2023, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; bởi vậy kháng cáo của ông Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn H là hợp pháp nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu bị đơn ông Đặng Minh C, bà Nguyễn Thị L2 trả lại phần diện tích bị cấp chồng lấn 525m².

[2.1] Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp:

Theo nguyên đơn trình bày, thửa đất của ông có diện tích 525m², nguồn gốc 01 phần là năm 1986 ông được bà Trần Thị Hạ T3 cho với diện tích khoảng 330m² (có giấy xác nhận tặng cho), 01 phần là năm 1993 gia đình ông được Hợp tác xã M1 giao thêm 01 thửa đất trưa mạ (là thửa đất dùng để ươm mầm lúa nước để thực hiện cấy ở các ruộng sau theo tập quán canh tác của địa phương) sát cửa đền Y với diện tích 195m² (có phản ánh trên sơ đồ quản lý đất đai của xóm và sổ 05, trang số 28). Gia đình ông L đã tiến hành nhập 02 thửa đất lại và sử dụng để bắc mạ và trồng rau khoai cùng các loại cây ngắn ngày khác, sử dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp với ai, khoảng năm 2012 đến năm 2013 gia đình cũng tiến hành đổ đất nâng mặt bằng. Xét thấy, tại “giấy xác nhận tặng cho quyền sử dụng đất” do bà Trần Thị H2 lập ngày 22/12/2018 thể hiện nội dung cha bà H2 là ông Trần Khắc B1 có 01 thửa đất khai hoang sát Đền Y, diện tích khoảng 10 thước tương đương 330m² sử dụng làm màu và bắc mạ, sau đó ông B1 giao lại cho bà H2 sử dụng, đến năm 1986 bà H2 tặng cho gia đình ông L sử dụng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/7/2023 bà Trần Thị H2 thừa nhận nội dung trên và khẳng định thửa đất này gia đình bà tự khai hoang, không được ai cấp, quá trình sử dụng cũng không đóng nộp thuế. Ngoài lời khai của một số người làm chứng như bà Trần Thị H2, ông Đoàn T6, ông Nguyễn Viết V1, ông Đặng Văn T5, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh thửa đất tranh chấp là của nguyên đơn.

Đối với phần đất còn lại theo nguyên đơn trình bày nguồn gốc là năm 1993 gia đình ông được HTX M1 giao thêm 01 thửa đất trưa mạ sát cửa đền Y với diện tích 195m² (có phản ánh trên sơ đồ quản lý đất đai của xóm và sổ 05, trang số 28). Tại sổ địa chính quyển thôn 7+8 cũ trang số 92 thể hiện diện tích đất ông L, bà T1 có 03 thửa gồm: 3322C Cửa Đền, 3321A: Cửa Đền, 3069B: Nhăm nhe với tổng diện tích là 399m² đất mạ. Tại danh sách quyết toán nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng đường H theo quyết định số 889/QĐ-UB thể hiện ông L có bị thu hồi một phần diện tích đất. Tại biên bản làm việc của UBND xã P về việc xác minh thửa đất của ông Nguyễn Văn L đã xác định hai thửa đất mạ vùng Cửa Đền của ông L là hai thửa riêng biệt, không trùng lên diện tích đất UBND xã giao cho ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2.

Theo trình bày của bị đơn ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2, thửa đất có nguồn gốc là đất hoang hóa thuộc vùng Đền Y do UBND xã quản lý, bị đơn cung cấp được “Đơn xin cấp quyền sử dụng đất” ngày 01/6/2001 tại thửa đất có vị trí cụ thể: Phía Bắc giáp đồng trưa mạ; phía Nam giáp ốt chợ; phía Đông giáp đền Y; phía Tây giáp đất ông L4 xóm 9, xã P; ông Phạm Xuân L5 (nguyên Chủ tịch UBND xã) có bút phê phía dưới đơn của ông C với nội dung: “U đề nghị trên cấp cho ông Đặng Minh C ô đất tại khu vực đền Y”; ngày 01/6/2001, ông C đã nộp 300.000 đồng lệ phí cấp đất vườn ở cho UBND xã P. Theo báo cáo số 48/BC-UBND ngày 20/4/2023 của UBND xã P và công văn số 939/UBND-TNMT ngày 26/4/2023 của UBND huyện H đều khẳng định thửa đất có nguồn gốc là đất hoang hóa thuộc vùng Đền Y do UBND xã quản lý. Tại báo cáo số 09/BC-UBND ngày 09/02/2018 và tại Toà án ông Phạm Xuân L5 khẳng định khi UBND xã đồng ý cấp đất cho ông C, thửa đất này là đất hoang hoá không ai sản xuất, kiểm tra sổ sách không có tên ai, khi cấp thửa đất này cho ông C không ai có ý kiến gì. Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án cho thấy, UBND xã và huyện tổ chức làm việc rất nhiều lần, tiến hành nghiên cứu lại toàn bộ hồ sơ sổ sách quản lý đất đai, xác minh nguồn gốc đất, lấy ý kiến từ những người cao tuổi có hiểu biết về nguồn gốc thửa đất đều khẳng định đây là vùng đất hoang hoá do UBND xã quản lý. Như vậy, có căn cứ xác định thửa đất tranh chấp thuộc vùng Đền Y, xóm F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh là đất hoang hoá do UBND xã quản lý và năm 2001 đã được cấp cho ông Đặng Minh C.

[2.2] Về quá trình sử dụng đất: Tại biên bản làm việc của Thanh tra huyện H chủ trì phối hợp với Phòng tư pháp, Phòng T7 ngày 10/4/2020 lấy ý kiến của các hộ liên quan để xác minh việc sử dụng đất của ông Nguyễn Văn L: Ông Nguyễn Đình C2, ông Nguyễn Viết T4, ông Võ Văn Đ1 đều khẳng định thửa đất tranh chấp không phải của ông Nguyễn Văn L, ông L không canh tác sử dụng trên thửa đất này.

Theo bị đơn trình bày mặt bằng thửa đất khi được UBND xã giao thấp hơn nền đường H khoảng 3m, quá trình sử dụng gia đình ông C đã thực hiện việc cải tạo, san lấp mặt bằng, xây kè đá hộc xi măng. Hiện trạng sử dụng đất theo báo cáo kết quả giải quyết đơn khiếu nại số 20/BC-UBND ngày 28/3/2018 của UBND xã P: Sau khi UBND xã P giao đất cho ông Đặng Minh C có thu phí cấp đất vườn ở 300.000 đồng thì hộ ông C thực hiện việc san lấp mặt bằng, hiện trạng là đất trống. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/8/2023, trên đất có móng đá hộc, kè bờ rào, mặt bằng đã được đổ đất san lấp với diện tích đất san lấp 547m² và 01 số cây cối không có giá trị. Ông Nguyễn Văn L không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh việc gia đình ông sử dụng thửa đất từ năm 1986 đến nay theo như đơn khởi kiện ông trình bày.

[2.3] Từ sự phân tích ở mục [2.1] và [2.2], Hội đồng xét xử nhận thấy diện tích đất 525m² đất ông Nguyễn Văn L khởi kiện không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn L. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 trả lại phần diện tích bị cấp chồng lấn 525m².

[3] Xét yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 thuộc thửa đất số 144, tờ bản đồ địa chính số 63, địa chỉ xóm F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, với diện tích là 639,7m² do UBND huyện H cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Tháng 11/2012, ông C có đơn đề nghị cấp GCNQSD đất theo Quyết định 2005/2012/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh. Tuy nhiên, quá trình xây dựng hồ sơ, UBND xã P nhận được phản ánh của hộ ông Nguyễn Văn L đề nghị UBND xã P tạm dừng việc cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C vì đang có tranh chấp. Do đó thửa đất của ông Đặng Minh C không thực hiện cấp GCNQSD đất theo Quyết định số 2005/2012/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh.

Đến ngày 09/3/2018, ông Nguyễn Văn L tiếp tục làm đơn khiếu nại việc UBND xã P xây dựng hồ sơ cấp đất cho ông C trùng lên đất của gia đình ông. Để giải quyết khiếu nại của ông L, Chủ tịch UBND xã P đã giao cán bộ chuyên môn liên quan kiểm tra, tham mưu giải quyết. Trên cơ sở kết quả xác minh lấy ý kiến của cán bộ qua các thời kỳ và những người cao tuổi gồm các ông Phạm Xuân L5, ông Trần Khắc N2, ông Nguyễn Viết T4, ông Đặng Văn T5 (có biên bản xác minh) đều khẳng định thửa đất đang tranh chấp không phải của ông Nguyễn Văn L. UBND xã có báo cáo số 09/BC-UBND ngày 09/02/2018 về việc giải quyết đơn thư. Căn cứ quy định của pháp luật, Chủ tịch UBND xã P đã ban hành Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông L. Không đồng ý với nội dung Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 của Chủ tịch UBND xã P, ngày 02/10/2019, ông Nguyễn Văn L, có đơn khiếu nại đề nghị Chủ tịch UBND huyện giải quyết. Để có cơ sở xử lý đơn của ông L, Chủ tịch UBND huyện đã giao Phòng T7 chủ trì, phối hợp với Thanh tra huyện và Phòng Tư pháp kiểm tra, xác minh, tham mưu giải quyết, trả lời công dân theo đúng quy định; sau khi xem xét kết quả kiểm tra, rà soát hồ sơ liên quan cho thấy ông Nguyễn Văn L không cung cấp được các hồ sơ, tài liệu, giấy tờ hợp pháp liên quan đến thửa đất khiếu nại và không sử dụng thửa đất khiếu nại nói trên. Căn cứ khoản 2 Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011, thì việc khiếu nại của ông Nguyễn Văn L không đủ điều kiện thụ lý giải quyết. Theo đó, ngày 31/12/2019, Chủ tịch UBND huyện đã ban hành Văn bản số 2487/UBND-TNMT trả lời ông Nguyễn Văn L với nội dung: Thông báo số 07/TB-UBND ngày 28/3/2018 của Chủ tịch UBND xã P về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông L là đúng quy định của pháp luật.

Về trình tự xây dựng, xét duyệt, thẩm định hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C: Ngày 10/8/2020, ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 có đơn đề nghị cấp GCNQSD đất và đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất đối với thửa đất nói trên. Sau khi tiếp nhận đơn và xem xét các hồ sơ liên quan, UBND xã P đã tổ chức lấy ý kiến dân cư, họp Hội đồng Tư vấn đất đai của xã và thực hiện các thủ tục theo quy định về xây dựng hồ sơ đề nghị UBND huyện cấp GCNQSD đất cho gia đình ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2, cụ thể như sau: Ngày 26/8/2020, UBND xã P tổ chức kiểm tra thực địa và họp lấy ý kiến của những người sử dụng đất cùng thời điểm tại khu dân cư; Ngày 15/9/2020, Hội đồng tư vấn Đ2, đề nghị cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C. Từ ngày 15/9 đến ngày 30/9/2020, UBND xã đã thực hiện niêm yết công khai kết quả họp xét của Hội, nguồn gốc, quá trình, hiện trạng sử dụng đất liên quan đến thửa đất ông Đặng Minh C đề nghị cấp GCNQSD đất. Quá trình niêm yết công khai, UBND xã không nhận được ý kiến phản ánh nào của tổ chức và công dân liên quan đến việc xét cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C. Ngày 30/9/2020, UBND xã đã lập biên bản kết thúc việc công khai và xác nhận hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C. Ngày 10/11/2020, U1 Tờ trình đề nghị cấp GCNQSD đất và đề nghị cho phép ông Đặng Minh C được chuyển mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở đối với thửa đất nêu trên. Xét đề nghị của UBND xã P; ý kiến thẩm định của Văn phòng Đ3 Chi nhánh H4 - Vũ Quang và căn cứ các quy định của pháp luật liên quan; ngày 30/12/2020, Phòng T7 đã có Tờ trình số 1448/TTr-TNMT trình UBND huyện công nhận QSD đất trồng cây lâu năm và cho phép ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở 100,0m². Theo đó, ngày 21/01/2021, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 177/QĐ-UBND về việc công nhận quyền sử dụng đất và cho phép ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở 100,0m². Sau khi gia đình ông Đặng Minh C hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định (nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất 100,0m2 từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở), UBND huyện đã cấp GCNQSD đất CY 342253 ngày 09/3/2021, với diện tích 639,7m² (trong đó, đất TCLN chuyển sang đất ở: 100m²; đất trồng cây lâu năm 539,7m²) cho gia đình ông C theo quy định.

Về căn cứ để thực hiện việc cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2: Căn cứ quy định tại khoản 3, Điều 23, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ và Khoản 19, Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017, Điều 52 Luật Đất đai: Năm 2001 UBND xã P giao đất cho hộ ông Đặng Minh C là thuộc trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền; tuy nhiên tại thời điểm cấp GCNQSD đất gia đình ông C chưa làm nhà ở nên căn cứ quy định hiện hành, UBND huyện công nhận đất trồng cây lâu năm cho ông Đặng Minh C và để sử dụng đất vào mục đích đất ở ông Đặng Minh C đã nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định. Quá trình xây dựng hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C, UBND xã P đã niêm yết, công khai kết quả xét duyệt và hồ sơ liên quan (15 ngày) và không nhận được ý kiến phản ảnh của các tổ chức, cá nhân nào. Vì vậy, việc UBND huyện cấp GCNQSD đất số CY 342253 cho ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 đảm bảo đúng với các quy định của pháp luật về đất đai hiện hành.

Đối chiếu theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành thì việc UBND huyện cấp GCNQSD đất cho ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 là đúng quy định. Do đó, việc ông Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn H yêu cầu hủy GCNQSD đất số CY 342253 mang tên ông Đặng Minh C và bà Nguyễn Thị L2 do UBND huyện H cấp ngày 09/3/2021 là không có căn cứ.

Do đó, từ những phân tích trên, HĐXX phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H.

[5] Về án phí: Kháng cáo của ông Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn H không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuy nhiên, xét ông Nguyễn Văn L là người cao tuổi theo quy định tại điều 2 Luật Người cao tuổi và ông L có đơn xin miễn án phí; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí cho ông Nguyễn Văn L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn H, giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
  2. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, anh Nguyễn Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000667 ngày 16/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Xác nhận anh Nguyễn Văn H đã thi hành xong việc nộp án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, P.HCTP-TANDCCHN.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Bùi Anh Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 385/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 385/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger