|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 385/2024/DS-PT Ngày: 17 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp đòi tài sản nhà ở và quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập.
Ông Đặng Minh Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 8 và 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 129/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2024/DSST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 220/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Công N, sinh năm: 1950 (có mặt).
- Cư trú tại: số A đường L, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm: 1977 (có mặt).
- Cư trú tại: Số B đường P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trịnh Thanh L – Văn phòng luật sư Trịnh Thanh L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt) và ông Trần Văn Đ1 – Luật sư văn Phòng L1 và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư thành phố H (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị X (không triệu tập);
- Bà Hồ Thị T (không triệu tập);
- Ông Hồ Văn C (không triệu tập);
- Ông Hồ Văn P (không triệu tập).
- Cùng cư trú tại: Áp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Bà Hồ Thị T1; Cư trú tại: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (không triệu tập).
- Bà Tô Bích T2 (không triệu tập);
- Anh Phan Tấn P1 (không triệu tập);
- Cùng cư trú tại: Số B, P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Bà Hồ Kim T3 (Hồ Thị T4); Cư trú tại: Số A, đường T, khóm A, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (không triệu tập).
- Bà Hồ Thị K; Cư trú tại: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (không triệu tập).
- Ông Hồ Hoàng C1; Cư trú tại: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (không triệu tập).
- Công ty cổ phần D; Địa chỉ: số A đường B, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện theo ủy quyền Công ty cổ phần D: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1959; Địa chỉ cư trú: số A, đường C, phường H, thành phố C (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Bé N1, sinh năm 1978; Cư trú tại: Số B đường P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (không triệu tập).
- Ông Huỳnh Thanh H1, sinh năm 1979; Cư trú tại: Số B đường P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (không triệu tập).
- Người kháng cáo:
- Ông Lê Công N – Nguyên đơn.
- Ông Phan Văn Đ – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/6/1994, ông ký hợp đồng với Công ty D1 (nay Công ty cổ phần D) để mua căn nhà số B, P, khóm C, phường G, thành phố C (sau đây gọi tắt là nhà số B) và đất diện tích 140m², thửa số 138, tờ bản đồ số 9 với giá 118.300.000 đồng. Trước đó ông giới thiệu cho bà Hồ Tuyết M (bạn kháng chiến của ông) mua căn nhà này nhưng bà M chỉ trả được 42.129.000 đồng do không đủ tiền nên bà M đồng ý chuyển nhượng căn nhà này cho ông và ông cho bà M ở nhờ (chỉ nói miệng). Khi nào bà M có chỗ ở khác thì trả lại nhà cho ông, có xác nhận của bà Nguyễn Thị Bé T5 (Tuyết Hồng) ngày 03/3/2022. Sau khi bà M chết, ông Phan Văn Đ trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà này.
Nay ông yêu cầu ông Phan Văn Đ cùng vợ con ông Đ có nghĩa vụ trả lại ông căn nhà số B và đất. Đồng thời yêu cầu bị đơn trả lại tiền mà bị đơn cho người khác thuê nhà mỗi tháng 5.000.000 đồng tính từ ngày 13/10/2021 đến nay tương đương 20 tháng x 5.000.000 đồng/tháng bằng số tiền 100.000.000 đồng.
Bị đơn ông Phan Văn Đ trình bày:
Nguồn gốc đất diện tích 140m² và nhà số B của bà Hồ Tuyết M nhận chuyển nhượng của Công ty D1 vào năm 1994, với giá 118.300.000 đồng, có xác nhận của Công ty. Bà M và ông trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà này từ năm 1994 đến khi bà M chết năm 2021. Sau khi bà M chết, ông trực tiếp quản lý, sử dụng hợp pháp căn nhà này cho đến nay.
Ông xác định là cháu ruột gọi bà M bằng dì (không phải con nuôi), ông là con ruột của Hồ Thị Tuyết . Bà M không có chồng và con. Ông được dì M trực tiếp nuôi dưỡng từ nhỏ, từ khi mua nhà số B. Nhà số 28 và đất là của bà Hồ Tuyết M để lại cho ông, không phải của nguyên đơn nên ông không đồng ý trả nhà, đất và tiền thuê nhà cho nguyên đơn. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu căn nhà và đất trên là của ông.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2024/DSST ngày 17 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Công N, buộc bị đơn ông Phan Văn Đ phải hoàn lại giá trị quyền sử dụng đất và căn nhà số B, P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau với số tiền 2.695.982.000 đồng.
Giao cho ông Phan Văn Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất theo đo đạc diện tích 116,3m² thuộc thửa số 138, tờ bản đồ số 9 (bản đồ chỉnh lý năm 2009) và căn nhà số B, P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
- Ngày 03/5/2024 ông Lê Công N kháng cáo yêu cầu:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024, ngày 17-4-2024 của Tòa án Nhân dân thành phố Cà Mau.
- Nguyên đơn không phải hoàn trả số tiền (71.500.000 đồng) Phan Văn Đ cung cấp cho Tòa, kê đầu tư sửa chữa căn nhà số B năm 2005. Vì năm 2008 bà M mới cho Phan Văn Đ về ở nhờ với bà tại căn nhà số B.
Buộc Phan Văn Đ giao trả lại căn nhà số B và quyền sử dụng đất tại khóm C, Phường G, Thành Phố C cho nguyên đơn Lê Công N.
· Ngày 03/5/2024 ông Phan Văn Đ kháng cáo yêu cầu:
- Sửa phần nội dung tuyên án của bản án sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau là không buộc, tôi - Phan Văn Đ phải hoàn trả lại giá trị quyền sử dụng đất và căn nhà số B, P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau với số tiền 2.695.982.000 đồng.
- Không chấp nhận toàn bộ nội dung đơn khởi kiện và yêu cầu của ông Lê Công N về việc công nhận quyền sở hữu căn nhà số B, P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27 tháng 8 năm 2024:
Ông Lê Công N xác định căn nhà số B mà ông đang khởi kiện đòi lại là tài sản riêng của ông, vợ ông thống nhất căn nhà số B là tài sản riêng của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 17 tháng 9 năm 2024:
Ông Lê Công N xác định căn nhà số B mà ông đang khởi kiện đòi lại là tài sản chung của vợ chồng, đúng như vợ ông trình bày tại Biên bản ngày 06/9/2024. Ông Lê Công N xác định vợ ông là Bà Bùi Thị Q không có ủy quyền cho ông khởi kiện.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DSST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau do vi phạm tố tụng, không đưa vợ ông Lê Công N vào tham gia tố tụng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Hủy Bản án sơ thẩm số 70/2024/DSST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, do đưa thiếu người tham gia tố tụng, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau giải quyết lại theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
[2] Về tố tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Tại Biên bản do Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau lập vào ngày 06 tháng 9 năm 2024 (bút lục 500), về việc ghi ý kiến của bà Bùi Thị Q – sinh năm 1952, cư trú tại số A, đường L, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (bà Bùi Thị Q là vợ của ông Lê Công N). Bà Bùi Thị Q có ý kiến: Bà Q xác định căn nhà số B, P, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau là tài sản chung của vợ chồng tôi cùng mua nhưng chỉ để cho ông nghiệp đứng tên để tiện chuyển tên sang cho cha chồng tôi đứng tên vì mua căn nhà là để cho cha mẹ chồng tôi ở nhưng cha mẹ chồng tôi không ở nên tôi cho chị M mượn ở. Tôi không tham gia tố tụng nhưng khi trả căn nhà thì trả cho vợ chồng tôi vì đây là tài sản chung của vợ chồng tôi cùng mua nhưng về thủ tục tố tụng thì để cho ông nghiệp đứng tên để thuận tiện cho việc yêu cầu khởi kiện và đi lại khi tòa án mời. Tôi xin từ chối tham gia tố tụng trong vụ án này. Bà quyên trình bày thêm: Bà hiểu rõ về nội dung vụ án. Sau khi bà M mất, ông Đ có ý đồ bán căn nhà vợ chồng tôi không hay, có hai người em (quên tên) đến nhà tôi báo cho vợ chồng tôi biết ông Đ chuẩn bị bán căn nhà, lúc đó chỉ có tôi ở nhà, ông N không có nhà, sau khi hai người em bà M về thì tôi gọi cho ông Nghiệp báo sự việc trên, sau đó ông nghiệp mới đi khởi kiện vụ án.
[2.2] Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, trong những đơn yêu cầu, trình bày ông Lê Công N đều xác định tiền mua nhà số B là tài sản riêng của ông, ông yêu cầu Phan Văn Đ phải giao trả căn nhà, đất số 28 và buộc ông Đ phải hoàn trả lại cho ông Lê Công N số tiền cho thuê nhà, không đề cập đến bà Bùi Thị Q. Do đó cấp sơ thẩm không đưa bà Q vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 17/9/2024, ông Lê Công N xác định căn nhà số B là tài sản chung của vợ chồng ông đúng như vợ ông là bà Bùi Thị Q trình bày tại Biên bản ngày 06/9/2024. Ông N cũng xác định bà Q chưa có ủy quyền cho ông khởi kiện thay bà.
[2.4] Do có lời trình bày của bà Q tại tiểu mục [2.1] và lời trình bày của ông Lê Công N tại tiểu mục [2.3] đã xác định đối tượng tranh chấp là căn nhà số B là tài sản chung của vợ chồng ông N, bà Q thì cần phải đưa bà Bùi Thị Q tham gia tố tụng với tư cách là đồng nguyên đơn hoặc là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Bùi Thị Q, đồng thời để ghi nhận ý kiến của bà Q về các tình tiết, các vấn đề phải giải quyết trong vụ án.
[3] Do cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng như nhận định trên, nên phải hủy bản án sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của TAND thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau và chuyển hồ sơ vụ án cho TAND thành phố Cà Mau giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
[4] Do hủy án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn.
[5] Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ án. Án phí dân sự phúc thẩm nguyên và bị đơn không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Chi phí tố tụng và án phí:
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Công N không phải chịu, đã được miễn dự nộp.
Ông Phan Văn Đ không phải chịu. Ngày 06/5/2024 ông Đ đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng, theo biên lai số 0008576, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được nhận lại.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thành Lập |
Đặng Minh Trung |
Đỗ Cao Khánh |
6
7
Bản án số 385/2024/DS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi tài sản nhà ở và quyền sử dụng đất
- Số bản án: 385/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản nhà ở và quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi lại căn nhà cho mượn và tiền thuê nhà
