|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 385/2025/HS-ST Ngày: 27-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Loan Trần Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Chính
- Ông Phan Anh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Khánh– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 379/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 384/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Đắc T (tên gọi khác Q), sinh năm 1986, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi thường trú và cư trú: 11B/A2, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Hoàng Thị G; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án:
- - Ngày 15/08/2013, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/03/2014).
- - Ngày 22/10/2015, bị cáo thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đến ngày 14/09/2016, bị Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2017.
- - Ngày 11/9/2018, bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Đến ngày 28/02/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023
Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 16/01/2025, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (Bị cáo có mặt)
- - Bị hại: Anh Nguyễn Văn Lê T2, sinh năm 1996.
- Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
- Nơi ở hiện tại: 46/10/27, Nguyễn Cửu V, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
- - Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Danh Thái P, sinh năm 1993(vắng mặt)
- Anh Lê Hồng T3, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1980 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đắc T và Nguyễn Thái C (sinh năm 1983, thường trú tại A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là bạn quen biết nhau.
Khoảng 16 giờ ngày 01/12/2023, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Click, biển số 60B1-236.56 chở Cung ngồi phía sau lưu thông trên đường H thuộc khu phố A, phường Q, thành phố B (nay là khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) hướng từ ga B ra đường V. Khi đi đến phía trước nhà số B, khu phố A, phường T, C nhìn thấy anh Nguyễn Văn Lê T2 (sinh năm 1996, thường trú tại thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk) cùng với anh Nguyễn Danh Thái P (sinh năm 1993, thường trú tại ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An) đang đi bộ trên đường cùng hướng với xe T lưu thông, trên tay trái của anh T2 đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax loại 256Gb. Lúc này, C nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại trên. C dùng tay vỗ vào người T ra hiệu và nói “Thằng đi bộ cầm điện thoại trên tay bấm bấm kìa” mục đích để rủ T cướp giật chiếc điện thoại của anh T2, T đồng ý. T điều khiển xe quay lại vòng qua phía sau anh T2 rồi chạy xe vượt lên ép sát phía bên trái anh T2, dùng tay phải giật chiếc điện thoại của anh T2 và tăng ga bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, T và C mang chiếc điện thoại trên đến tiệm điện thoại di động “Bình Dương T" thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, do anh Lê Hồng T3 (sinh năm 1983) làm chủ bán cho anh T3 với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Số tiền này, T, C chia nhau mỗi người 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và tiêu xài cá nhân hết. Anh T3 không biết điện thoại do T, C phạm tội mà có.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, anh T3 đến Công an phường Q (nay là Công an phường T) trình báo sự việc. Công an phường T đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Ngày 29/12/2023, T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại khu phố N, phường H, thành phố B. Đến ngày 30/12/2023, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt giữ và xử lý.
Riêng Nguyễn Thái C sau khi gây án đã bỏ trốn.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 07/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax loại 256Gb có trị giá là 21.439.200 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax loại 256Gb do Trần Đắc T và Nguyễn Thái C cướp giật của anh Nguyễn Văn Lê T2, T, C đã bán chiếc điện thoại trên cho anh Lê Hồng T3. Sau đó, anh T3 đã tháo linh kiện của chiếc điện thoại trên lắp ráp cho khách đến sửa điện thoại, riêng xác máy đã bỏ đi nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Click, biển số 60B1-236.56 Thắng điều khiển chở Cung cướp giật tài sản, qua xác minh là xe của C mua sử dụng làm phương tiện đi lại và nhờ chị Nguyễn Thị Thu T4 (sinh năm 1980, thường trú tại tổ C, khu phố C, phường T, thành phố B, là chị gái của C) đứng tên chủ sở hữu. Do C đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra chưa thu giữ được.
- - 01 USB màu xanh loại Kingston, dung lượng 02Gb chứa đoạn video ghi lại diễn biến hành vi cướp giật tài sản (lưu kèm hồ sơ vụ án).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn Lê T2 yêu cầu bồi thường số tiền 21.439.200 đồng.
Bản cáo trạng số: 388/CT-VKSBH ngày 30/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trần Đắc T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đắc T từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù đến 05 (năm) năm tù;
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Văn Lê T2 theo quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm trở về làm lại cuộc đời và đi làm kiếm tiền bồi thường cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, với lời khai của bị hại, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 01/12/2023, tại phía trước nhà số B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trần Đắc T và Nguyễn Thái C có hành vi điều khiển xe mô tô cướp giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax loại 256Gb trị giá 21.439.200₫ (Hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn hai trăm đồng) anh Nguyễn Văn Lê Thả . Ngày 23/9/2024, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố xử lý. Sau khi gây án, C bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can và ra Quyết định truy nã đối với C. Trong vụ án có đồng phạm, bị cáo Trần Đắc T là người trực tiếp cướp giật tài sản.
[2.1] Hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax loại 256Gb do Trần Đắc T và Nguyễn Thái C cướp giật của anh Nguyễn Văn Lê T2, T, C đã bán chiếc điện thoại trên cho anh Lê Hồng T3. Sau đó, anh T3 đã tháo linh kiện của chiếc điện thoại trên lắp ráp cho khách đến sửa điện thoại, riêng xác máy đã bỏ đi nên Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.
[5.2] Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Click, biển số 60B1-236.56 Thắng điều khiển chở Cung cướp giật tài sản, qua xác minh là xe của C mua sử dụng làm phương tiện đi lại và nhờ chị Nguyễn Thị Thu T4 (sinh năm 1980, thường trú tại tổ C, khu phố C, phường T, thành phố B, là chị gái của C) đứng tên chủ sở hữu. Do C đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra chưa thu giữ được nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[5.3] 01 USB màu xanh loại Kingston, dung lượng 02Gb chứa đoạn video ghi lại diễn biến hành vi cướp giật tài sản (lưu hồ sơ vụ án).
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn Lê T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 21.439.200 đồng. Bị cáo Trần Đắc T cũng đồng ý bồi thường cho bị hại. Do trong vụ án có đồng phạm nhưng chỉ mới có bị cáo bị đưa ra xét xử nên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Lê Thả . Bị cáo có quyền yêu cầu các đồng phạm khác hoàn trả số tiền mà mình đã bồi thường (phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình) bằng một vụ án dân sự khác. Do đó, buộc bị cáo Trần Đắc T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Văn Lê T2 số tiền 21.439.200 đồng.
[7] Đối với anh Lê Hồng T3 mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax loại 256Gb nhưng không biết đó là tài sản do Trần Đắc T phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp.
[8] Đối với Nguyễn Thái C có hành vi cùng với Trần Đắc T cướp giật tài sản của anh Nguyễn Văn Lê T2 vào ngày 01/12/2023. Sau khi gây án, C bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can và ra Quyết định truy nã đối với C, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
[9] Về tổng hợp hình phạt: Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 16-01-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo Trần Đắc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ 30/12/2023 về tội “Trộm cắp tài sản” đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp với hình phạt của tội đang bị xét xử.
[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về tội danh, hình phạt, về trách nhiệm dân sự và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Trần Đắc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Trần Đắc T 05 (năm) năm tù.
- - Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của tội đang bị xét xử với hình phạt 03 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 16-01-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Buộc bị cáo Trần Đắc T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Văn Lê T2 số tiền 21.439.200 đồng (Hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn hai trăm đồng).
- - Kể từ khi anh Nguyễn Văn Lê T2 có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền nêu trên, nếu bị cáo chậm thi hành thì phải chịu thêm khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí hình sự: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Đắc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.072.000 đồng (một triệu không trăm bảy mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Loan Trần Hải Yến |
Bản án số 385/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 385/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Đắc T phạm tội Cướp giật tài sản
