TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 385/2025/DS-PT Ngày: 23- 05 - 2025 “Tranh chấp quyền sử dụng đất theo ranh giới” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Đỗ Minh Hoàng. |
| Các Thẩm phán: | Ông Vũ Toàn Giang; |
| Ông Đàm Văn Thuận. |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Ninh Việt Hoàng - Thư ký TAND Thành phố Hà Nội.
Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Q - Kiểm sát viên.
Ngày 23/05/2025, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 206/2025/TLPT-DS ngày 24/3/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất theo ranh giới”. Do bản án dân sự sơ thẩm số số 361/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2025/QĐ-PT ngày 15/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 327/2025/QĐ-PT ngày 06/5/2025 của TAND Thành phố Hà Nội đối với các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Đ, Hà Nội. Có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông K: Luật sư Nguyễn Tiến T –Văn phòng L3, Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: P - D, phố T, quận Đ, Hà Nội. Có mặt
- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Đ, Hà Nội. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Vũ Tuyến H – Luật sư Văn phòng L4 – Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: B ngách A, phố N, T, H, Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969.
- Anh Trần Văn Q1, sinh năm 1992.
- Chị Trần Thị Vân N, sinh năm 1994.
- Cháu Trần Tùng A, sinh năm 2016.
- Cháu Trần Quang D, sinh năm 2017.
Đại diện hợp pháp của cháu Tùng A và cháu D là anh Q1 và chị N. Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Đ, Hà Nội. Cùng vắng mặt.
- Anh Vũ Ngọc N1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt;
- Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1954. Có mặt;
- Anh Trần Quang D1, sinh năm 1979. Có mặt;
- Chị Trương Thị T2, sinh năm1984. Vắng mặt;
- Cháu Trần Anh T3, sinh năm 2007. Vắng mặt;
- Cháu Trần Khánh H3, sinh năm 2010. Vắng mặt;
- Cháu Trần Đức D2, sinh năm 2014. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Đ, Hà Nội. Đại diện hợp pháp của cháu T3, cháu H3 và cháu D2 là anh D1 và chị T2.
- Anh Trần Quang S, sinh năm 1982. Có mặt.
- Chị Vương Thị Bích T4, sinh năm 1983. Vắng mặt;
- Cháu Trần Quang H4, sinh năm 2005. Vắng mặt;
- Cháu Trần Quang H5, sinh năm 2010. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Đại diện hợp pháp của cháu H5 là anh S và chị T4.
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn T1 là bị đơn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án, tại cấp sơ thẩm
- Nguyên đơn – Ông Trần Văn K trình bày:
Ông là chủ sử dụng thửa đất số 41 tờ bản đồ số 37 tại thôn C, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội (Sau đây viết tắt là thửa đất số 41) đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 244450 năm 2013 (Sau đây viết tắt là GCNQSDĐ số BO 244450 ) mang tên ông Trần Văn K.
Thửa đất số 41 có nguồn gốc của cha ông để lại cho ông có tổng diện tích là 184m². Kích thước các cạnh: Phía Nam giáp đường; phía Đông giáp đường; phía Tây giáp đất nhà ông T1; phía Bắc giáp đất nhà ông N2.
Năm 1998 ông xây dựng công trình phụ về phía giáp đất nhà ông T1 và đào một ao về phía Nam của thửa đất, đất của ông T1 vẫn để trống, chưa xây dựng gì.
Sau khoảng 4 đến 5 năm sau thì ông lấp ao và chuyển khu công trình phụ ra đó. Khi đó ông T1 đã không cho ông xây thẳng ra mép công trình phụ, nên ông đã xây lùi lại 50cm, lý do ông xây lùi lại là để có mái chảy. Giữa hai thửa đất thời điểm đó có xác định ranh giới bằng hàng rào trồng cây và bụi tre.
Năm 2017, ông phá dỡ nhà, tường rào cũ, xây nhà mới, tường mới, nhưng ông T1 cản trở không cho xây. Móng khu công trình phụ giáp với đất nhà ông T1 thì ông vẫn giữ.Tuy nhiên ngay khi phá dỡ xong thì ông T1 là chủ sử dụng của thửa đất liền kề nhân lúc gia đình ông đi vắng đã tự ý tiến hành xây dựng tường rào lấn sang đất nhà ông nhằm thay đổi mốc giới, chiếm đất của ông.
Sau khi sự việc xảy ra, ông làm đơn đề nghị xác định ranh giới giữa thửa đất nhà ông và nhà ông T1 đến UBND xã T; UBND xã đã hòa giải ngày 23/7/2021. Tại biên bản hòa giải ông T1 đã thừa nhận việc xây tường rào lấn sang đất nhà ông so với mốc giới cũ. Ngày 14/10/2021 UBND xã tiến hành hòa giải lần thứ hai nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do.
Qua kiểm tra đo đạc ông phát hiện thấy diện tích thửa đất số 41 của ông đo đạc thực tế là còn có 180,8m², như vậy đã thiếu 3,2m² so với GCNQSDĐ số BO 244450. Việc thiếu hụt này là do hộ ông T1 lấn chiếm sang thửa đất số 41 của ông chiều dài khoảng 8m, chiều rộng điểm đầu khoảng 20cm, chiều rộng điểm cuối khoảng 40cm.
Ông yêu cầu giải quyết tranh chấp đất theo ranh giới giữa thửa đất số 41 của ông với thửa đất liền kề của ông T1, yêu cầu ông T1 phải trả lại diện tích 3,2m² mà ông T1 đã lấn chiếm sang đất của nhà ông.
Ông không đồng ý với yêu cầu của ông T1 về yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BO 244450 của gia đình ông, vì việc cấp GCNQSDĐ số BO244450 gia đình ông đã thực hiện đúng các quy trình, thủ tục cấp. Ngoài ra ông K không có yêu cầu gì khác.
- Bị đơn - Ông Trần Văn T1 trình bày:
Thửa đất số 42 của gia đình nhà ông có nguồn gốc ban đầu một phần là đất ruộng của Hợp tác xã giao cho ông và một phần của chị gái ông để lại cho ông. Hiện tại gia đình ông vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ, ông đã nhiều lần làm hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ nhưng chưa làm được. Ông cũng không nắm rõ thửa đất của gia đình ông có tổng diện tích là bao nhiêu m². Ban đầu thửa đất rất rộng sau đó ông đã bán đi một phần, chỉ còn lại như hiện gia đình ông đang sử dụng. Năm 1998 ông chưa xây dựng công trình gì trên đất. Khi ông K xây dựng công trình phụ quay ra hướng Đông thì có xây một bức tường ngăn ranh giới cao khoảng 1,5m. Thời điểm đó giữa hai thửa đất đã xác định ranh giới bằng hàng rào cây và bụi tre. Sau này có bức tường do ông K xây và ông K phá đi để xây nhà mới như hiện nay.
Năm 2008 ông xây 2 ngôi nhà ống liền nhau, phía tường rào giáp nhà ông K thì ông không xây. Giáp nhà ông K chỉ có khu chuồng gà của nhà ông.
Tường rào giữa hai nhà là do ông K xây, đất của ông K đến đâu thì ông K xây đến đó, ông không xây tường nên ông không lấn đất của ông K. Khi hai nhà đang có tranh chấp mà ông K vẫn tiếp tục xây dựng tường ngăn ranh giới, nhà vẫn xây trên mép tường cũ, giữa hai bên không có tranh chấp, nên ông khẳng định ông K đã xây hết đất của nhà ông.
Thửa đất của ông K đã được cấp GCNQSDĐ số BO 244450 theo ông là cấp sai vì: Ông K cho rằng bị thiếu đất so với diện tích đất của ông nhưng vẫn được cấp, khi cấp thì không mời gia đình ông xác định mốc giới, ông không ký vào biên bản gì. Đề nghị Tòa án hủy GCNQSDĐ số BO 244450 đã cấp cho gia đình ông K.
Ông vẫn có nguyện vọng được hòa giải với gia đình ông K, nhưng ông K không đồng ý nên ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông K.
Tại phiên hòa giải ngày 30/8/2024, trong phần trình bày, ông T1 xác định: Không yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BO 244450 đã cấp cho gia đình ông K.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Bà Nguyễn Thị H1, anh Q1, chị N trình bày:
Bà H1, anh Q1 và chị N hoàn toàn nhất trí với đơn khởi kiện, ý kiến trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án của ông K. Đề nghị Tòa án công tâm xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết một cách khách quan và đúng quy định của pháp luật. Xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- Bà Phạm Thị H2 và các anh chị D1, S, T2, T4:
Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà H2 và các anh chị D1, S, T2, T4 đến Tòa án để tham gia tố tụng và giao nộp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông K, nhưng đều không tham gia tố tụng và cũng không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ liên quan. Mặc dù Tòa án đã trực tiếp đến nhà ông T1 giải thích về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật cho các đương sự; khi tiến hành ghi lời khai và tống đạt các văn bản tố tụng thì bà H2; các anh chị D1, S, T2, T4 đều đã được giao các văn bản tố tụng nhưng không ký biên bản giao nhận và đều từ chối không cung cấp ý kiến với Tòa án.
- Anh Vũ Ngọc N1 trình bày:
Anh là chủ cửa hàng J, thuê căn nhà hai tầng khung thép của ông K, khi thuê hai bên có lập Hợp đồng. Khi thuê nhà anh nhận nguyên trạng của ngôi nhà, anh không sửa chữa cải tạo gì. Nay ông K khởi kiện đối với ông T1 thì anh không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và phiên tòa xét xử.
- Bà Nguyễn Thị H1, anh Q1, chị N trình bày:
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
+ Luật sư của nguyên đơn và nguyên đơn thống nhất trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày trong quá trình chuẩn bị xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
+ Bị đơn trình bày: Đất của nhà ông K đã được cấp GCNQSDĐ số BO 244450 theo hiện trạng, ông K vẫn sử dụng ổn định. Việc ông K thiếu đất thì ông K phải kiện cơ quan Nhà nước đã cấp GCNQSDĐ số BO 244450, ông không lấn chiếm đất của ông K. Đất của ông có nguồn gốc cha ông để lại từ lâu, ông đã chuyển nhượng 2 lần; thực tế bao nhiêu m² đã chuyển nhượng bao nhiêu ông cũng không nhớ, hiện tại thiếu hay thừa ông cũng không biết và chưa được cấp GCN QSDĐ. Khi ông xây dựng căn nhà cấp 4 thì ông xây giáp với bức tường rào mà ông K đã xây dựng từ trước ngăn gianh giới giữa hai nhà, nên ông K không thể nói ông lấn chiếm đất của ông K. Mâu thuẫn giữa hai bên gia đình đã xảy ra khoảng gần 20 năm như ông K trình bày. Ông K khởi kiện về tranh chấp mốc giới chứ không khởi kiện yêu cầu đòi đất của ông, nên ông không chấp nhận việc ông K yêu cầu ông phải trả lại đất cho ông K. Ông không yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BO 244450.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bản án dân sự sơ thẩm số 361/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Quyết định
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K đòi quyền sử dụng đất theo ranh giới đối với ông Trần Văn T1.
- Buộc gia đình ông Trần Văn T1 phải trả lại cho gia đình ông Trần Văn K diện tích 3,1m2 đất thuộc thửa đất số 41 tờ bản đồ số 37 tại thôn C, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi các điểm 8,9,10,C,8 (kèm theo sơ đồ thửa đất).
- Buộc gia đình ông Trần Văn T1 phải tự tháo dỡ 1 phần của căn nhà cấp 4 đã xây dựng trên phần diện tích 3,1 m2 đất nêu trên, tại thửa đất số 41 tờ bản đồ số 37 tại thôn C, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội mà không được đền bù hoặc thanh toán lại.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm; ông Trần Văn T1 là bị đơn trong vụ án - Kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 361/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm.
Luật sư H và ông T1 thống nhất trình bày: Ông K đã xây tường cao khoảng 1,5m ngăn ranh giới. Nghĩa là ông K đã xây hết đất của ông K, đất của ông K đến đâu thì ông K xây đến đó. Ông T1 không xây lấn đất của ông K. Giữa ông T1 và ông K đang có tranh chấp và ông T1 không ký vào biên bản giáp ranh thì việc ông K được cấp GCNQSDĐ số BO 244450 là không đúng pháp luật: Ông T1 cũng thừa nhận tại cấp sơ thẩm ông không yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BO 244450.
Luật sư T và ông K thống nhất trình bày. Giữ nguyên các ý kiến trình bày tại cấp sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của ông T1.
Anh D1, anh S (Con ông T1) có quan điểm trình bày như Luật sư H và ông T1 đã trình bày.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa không gửi văn bản trình bày quan điểm ý kiến với Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án.
Kiểm sát viên VKSND Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Sau khi đánh giá phân tích về nội dung vụ án theo bản phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1].Về tố tụng
- Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Các đương sự không kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành phiên tòa vắng mặt họ.
[2] Về Nội dung:
Xét kháng cáo của ông T1. Hội đồng xét xử thấy:
+ Thửa đất số 41, có nguồn gốc do cha ông của ông K để lại cho ông K. Ngày 05/6/2013 Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp GCNQSDĐ số BO 244450 cho “Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liền với đất” là ông Trần Văn K với diện tích là 184m² đất ở nông thôn và được sử dụng riêng. Có sơ đồ kích thước trong GCNQSDĐ số BO 244450 như sau: Phía Nam giáp đường là 15,5 m; phía Đông giáp đường là 11m; phía Tây giáp đất nhà ông T1 là 12,4m; phía Bắc giáp đất nhà ông N2 là 15,9 m. Các cạnh giáp ranh là đường thẳng.
Mặc dù ông T1 cho rằng tại thời điểm UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số BO 244450 cho ông K thì đất có tranh chấp, ông không ký vào các biên bản của Hội đồng xét duyệt cấp GCNQSDĐ. Tuy nhiên tại Công văn số 297/UBND- TNMT ngày 02/02/2024 (BL số 104), UBND huyện Đ khẳng định “Việc cấp GCNQSDĐ số BO 244450 cho ông Trần Văn K được thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại thời điểm cấp”.
Kể từ khi ông K cấp GCNQSDĐ số BO 244450 cho đến nay không có tổ chức, cá nhân nào đề nghị xem xét lại hoặc đề nghị hủy GCNQSDĐ số BO 244450. Tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm ông T1 không yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BO 244450 đã cấp cho ông K. Ông K vẫn quản lý và sử dụng thửa đất từ trước cho đến ngày 05/6/2013 được cấp GCNQSDĐ số BO 244450 thì năm 2017 ông K xây dựng ngôi nhà 3 tầng và sau đó xây tiếp nhà 1 tầng, phía trên dựng khung sắt mái tôn, tường tôn (Làm tầng 2), hiện cho anh N1 thuê. Đủ căn cứ xác định GCNQSDĐ số BO 244450 do UBND huyện Đ đã cấp cho ông K đang có hiệu lực pháp luật. Đối chiếu với:
Khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm cấp GCNQSDĐ số BO 244450) quy định. “...2. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, ... được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất”. Khoản 20 Điều 4 Luật đất đai năm 2003 (Luật có hiệu lực tại thời điểm GCNQSDĐ số BO 244450) quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”. Như vậy: Ông K là “Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liền với đất” theo đúng diện tích và sơ đồ tại GCNQSDĐ số BO 244450.
Tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc thực tế ngày 26/7/2023 xác định được:
Thửa đất số 41 của ông K chỉ còn 138,2m². Cạnh phía Nam giáp đường (kéo từ phía Đông đến giáp đất của ông Tl) của thửa đất số 41 có số đo (7,56 m + 7,71m) là 15,27m. Đối chiếu với sơ đồ tại GCNQSDĐ số BO 244450 là 15,5 m thì bị thửa đất của ông T1 lấn sang đất của ông K một phần đất tại điểm đầu là 0,23m và điểm cuối cách điểm đầu 7,91m là 0,41m.
Diện tích thửa đất hiện ông T1 đang quản lý sử dụng đo thực tế là 387,1m². Có phần chồng lấn sang đất của ông K từ 0,23m và 0,41m với diện tích 3,1 m².
UBND xã T cung cấp: Thửa đất của ông T1 có nguồn gốc theo sổ mục kê kèm theo bản đồ 299 thể hiện là 2 thửa đất; thửa số 475 diện tích là 580m² và thửa đất số 583 (không rõ số tờ bản đồ) có diện tích là 348m² đứng tên anh rể ông T1 là Trần Văn N3 (theo ông T1 cung cấp tên anh rể là Cao Văn N4), tổng diện tích là 928m². Theo bản đồ địa chính 364 thì thửa đất số 42 tờ bản đồ số 37 có tổng diện tích ban đầu là 829m² mang tên ông Trần Văn T1, trên bản đồ không thể hiện kích thước các cạnh của thửa đất. Quá trình sử dụng đất gia đình ông T1 đã hai lần chuyển nhượng. Cụ thể: Chuyển nhượng cho ông Vũ Hữu C 310m², UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK741190 ngày 28/12/2007 cho ông Vũ Hữu C với diện tích 310m².
Chuyển nhượng cho ông L. Hiện các con của ông L là Trần Văn L1 và Trần Nguyễn Xuân L2 đang quản lý sử dụng diện tích nhận chuyển nhượng của ông T1 với diện tích 260m² chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy ông T1 đã chuyển nhượng [310m² (cho ông C) + 260m² (cho ông L2)] là 570 m². Do ông T1 không xác định diện tích đất của mình là bao nhiêu m². Do vậy theo cung cấp của UBND xã T xác định: Nếu tổng diện tích của đất của ông T1 là 928m². Đối trừ với 570m² đã chuyển nhượng cho ông C, ông L thì diện tích còn lại của ông T1 (928m²- 570m²) là 358m². Đối chiếu với diện tích thực tế hiện ông T1 đang quản lý sử dụng theo sơ đồ đo đạc tại phiên xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/7/2023 là 387,1 m² thì ông T1 đã quản lý, sử dụng thừa (387,1 m² - 358m²) là 29,1m². Nếu tổng diện tích của đất của ông T1 là 829m². Đối trừ với 570m² đã chuyển nhượng cho ông C, ông L thì diện tích còn lại của ông T1 (829m²- 570m²) là 259m². Đối chiếu với diện tích thực tế hiện ông T1 đang quản lý sử dụng theo sơ đồ đo đạc tại phiên xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/7/2023 là 387,1 m² thì ông T1 đã quản lý đã thừa (387,1 m² - 259m²) là 128,1m².
- Theo cung cấp của UBND xã T, đất của gia đình ông T1 tại thửa đất số 42 tờ bản đồ số 37 có tổng diện tích 259m² chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bản đồ do UBND xã T đang quản lý cũng không thể hiện số đo kích thước các cạnh, nên không có căn cứ để xác định. Tuy nhiên đất của ông T1 hiện đang thừa từ 29,1m² đến 128,1m² là thực tế. Thửa đất số 41 của ông K theo GCNQSDĐ số BO 244450 bị thiếu 3,1m² do ông T1 đã xây dựng một căn nhà cấp 4 lợp mái tôn lấn sang thửa đất của gia đình ông K với diện tích là 3,1m² đất là thực tế.
Do đó cấp sơ thẩm buộc gia đình ông T1 phải tự tháo dỡ 1 phần của căn nhà cấp 4 đã xây dựng lấn sang thửa đất của ông K để trả lại cho ông K 3,1m² đất được giới hạn bởi các điểm 8,9,10,C,8 (theo sơ đồ thửa đất) mà không được đền bù hoặc thanh toán là có căn cứ pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là đúng pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3] Về án phí: Giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm. Do kháng cáo không được chấp nhận. Lẽ ra ông T1 phải chịu án phí dân sự phức thẩm. Nhưng ông T1 là người cao tuổi có đề nghị xin miễn án phí dân sự. Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông T1.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Các Điều 147,148; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Các Điều 175, 176 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Điều 100 Luật đất đai.
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Luật ngươi cao tuổi.
Xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 361/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K đòi quyền sử dụng đất theo ranh giới đối với ông Trần Văn T1.
- Buộc gia đình ông Trần Văn T1 phải trả lại cho gia đình ông Trần Văn K diện tích 3,1m² đất thuộc thửa đất số 41 tờ bản đồ số 37 tại thôn C, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi các điểm 8,9,10,C,8 trong sơ đồ kèm theo bản án.
- Buộc gia đình ông Trần Văn T1 phải tự tháo dỡ 1 phần của căn nhà cấp 4 đã xây dựng trên phần diện tích 3,1 m² đất phải trả lại theo khoản 2 Quyết định của bản án mà không được đền bù thanh toán lại.
- Án phí dân sự:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho ông Trần Văn T1.
Hoàn trả ông Trần Văn K 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006658 ngày 06/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Minh Hoàng |
Bản án số 385/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất theo ranh giới
- Số bản án: 385/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất theo ranh giới
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Trần Văn K Bị đơn: Trần Văn T1
