Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 385/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/9/2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành, ông Trần Mai Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 221/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/6/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 402/2024/QĐXXST-DS ngày 12/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1997; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: số nhà C, ngõ E, đường Đ, quận T, thành phố T, Đài Loan. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1997; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: Thái Lan. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lương Thị T, sinh năm 1965 và ông Nguyễn Tứ N, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/3/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 11/9/2017. Năm 2022, chị M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau đó anh Đ cũng đi làm ăn tại Thái Lan. Do khoảng cách địa lý xa xôi, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ có hai con chung là cháu Nguyễn Huy K, sinh ngày 22/10/2016 và cháu Nguyễn Linh Đ1 sinh ngày 11/12/2019. Từ lúc chị M đi Đài Loan cho đến nay, hai con chung ở cùng bố mẹ đẻ của chị M là bà Lương Thị T và ông Nguyễn Tứ N. Ly hôn, chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con. Tại đơn khởi kiện chị M yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng. Quá trình giải quyết vụ án chị M không yêu cầu anh Nguyễn Văn Đ cấp dưỡng nuôi con. Trong thời gian chị M ở nước ngoài, chị đề nghị giao con chung của anh chị cho ông N và bà T nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Nguyễn Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Đ thông qua bà Lưu Thị C là mẹ đẻ của anh Đ và niêm yết theo quy định. Anh Đ đã biết chị M yêu cầu ly hôn, nuôi con chung chưa thành niên nhưng hiện anh Đ vắng mặt, không có ý kiến gửi cho Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tứ N và bà Lương Thị T trình bày: Ông N và bà T là bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị M. Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn vào năm 2017. Năm 2022, chị M đi xuất khẩu lao động Đài Loan. Sau đó anh Đ cũng đi làm ăn tại Thái Lan. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh Đ, chị M có 2 người con chung là Nguyễn Huy K, sinh ngày 22/10/2016 và Nguyễn Linh Đ1, sinh ngày 11/12/2019. Từ lúc chị M đi Đài Loan cho đến nay, hai cháu Nguyễn Huy K và Nguyễn Linh Đ1 ở cùng với ông N và bà T. Các cháu rất ngoan ngoãn, phát triển thể chất rất tốt. Nay anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Minh ly H, trong trường hợp Tòa án giao hai cháu Nguyễn Huy K và Nguyễn Linh Đ1 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng thì ông bà xin tự nguyện thay chị M nuôi dưỡng hai cháu Huy K và Linh Đ1 trong thời gian chị M ở nước ngoài. Ông N, bà T không yêu cầu chị M và anh Đ phải chịu các phí tổn nuôi cháu từ trước đến nay.

Cháu Nguyễn Huy K trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn Văn Đ và mẹ Nguyễn Thị M. Từ khi mẹ đi nước ngoài đến nay cháu ở với ông bà ngoại là ông Nguyễn Tứ N và bà Lương Thị T. Nếu bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại.

Tại biên bản xác minh ngày 19/7/2024, bà Lưu Thị C trình bày: Bà Lưu Thị C là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Đ. Hiện nay, anh Đ đang sinh sống và làm việc tại Thái Lan. Anh Đ thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng bà không biết địa chỉ của anh Đ để cung cấp cho Tòa án. Bà C đã thông báo cho anh Đ biết việc chị M làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án nhưng anh Đ không có ý kiến gì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Tòa án đã có Công văn yêu cầu thân nhân của bị đơn anh Nguyễn Văn Đ cung cấp địa chỉ của anh Đ ở nước ngoài cho Tòa án. Thông qua lời khai của bà Lưu Thị C là mẹ đẻ anh Đ có căn cứ xác định anh Nguyễn Văn Đ hiện đang ở nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, anh Đ đã biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị M nhưng anh Đ vẫn không gửi ý kiến về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ. Về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Huy K và Nguyễn Linh Đ1 cho chị Nguyễn Thị M chăm sóc, nuôi dưỡng; trong thời gian chị M ở nước ngoài, đề nghị giao 2 con chung cho ông Nguyễn Tứ N và bà Lương Thị T nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 15263/QLXNC-P3 ngày 16/7/2024 của Cục Q Bộ C1 và lời trình bày của bà Lưu Thị C là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Đ thì có căn cứ xác định hiện nay anh Đ đang cư trú tại nước ngoài và vẫn liên lạc về với gia đình. Anh Đ đã biết được việc chị Nguyễn Thị M làm đơn xin ly hôn đối với anh Đ tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng anh Đ không cung cấp địa chỉ và gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án. Do đó, việc anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đ đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị M, ông Nguyễn Tứ N, bà Lương Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Năm 2022, chị M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau đó anh Đ cũng đi làm ăn tại Thái Lan. Do vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm phai nhạt dần. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị M làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ. Tòa án đã thông báo cho anh Đ biết chị M xin ly hôn với anh Đ thông qua bà Lưu Thị C là mẹ đẻ của anh Đ nhưng anh Đ cũng không có ý kiến, không liên lạc với Tòa án thể hiện mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Do đó, xét thấy, cuộc hôn nhân của chị M anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ có hai con chung là cháu Nguyễn Huy K, sinh ngày 22/10/2016 và cháu Nguyễn Linh Đ1 sinh ngày 11/12/2019, hiện đang ở với ông bà ngoại là bà Lương Thị T và ông Nguyễn Tứ N. Ly hôn, chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con. Xét thấy, hiện nay chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn Đ đều đang ở nước ngoài, tuy nhiên chị M có địa chỉ rõ ràng, còn anh Đ không rõ địa chỉ. Cháu Huy K và cháu Linh Đ1 đang ở với ông bà ngoại, cháu K cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung chưa thành niên nên cần giao các cháu Nguyễn Huy K và Nguyễn Linh Đ1 cho chị Nguyễn Thị M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị M hiện đang ở nước ngoài, cháu Nguyễn Huy K và Nguyễn Linh Đ1 hiện đang sống cùng ông bà ngoại là bà Lương Thị T và ông Nguyễn Tứ N được ông bà chăm sóc chu đáo, cho học hành đầy đủ, đảm bảo sự phát triển về mọi mặt. Trong thời gian chị Nguyễn Thị M ở nước ngoài, chị M đề nghị giao hai con cho ông N, bà T chăm sóc; ông N, bà T cũng tự nguyện nhận trách nhiệm chăm sóc, quản lý các cháu; cháu Huy K cũng có nguyện vọng được ở ông bà ngoại. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống ổn định sinh hoạt cho các cháu, cần ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tứ N, bà Lương Thị T nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc các cháu trong thời gian chị M ở nước ngoài. Anh Nguyễn Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Nguyễn Văn Đ chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[5] Ông Nguyễn Tứ N và bà Lương Thị T là người trực tiếp chăm sóc các cháu Nguyễn Huy K và Nguyễn Linh Đ1 từ khi chị M đi nước ngoài cho đến nay nhưng ông bà không yêu cầu thanh toán chi phí chăm sóc cháu nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 37, 147, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huy K, sinh ngày 22/10/2016 và cháu Nguyễn Linh Đ1 sinh ngày 11/12/2019 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tứ N và bà Lương Thị T nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc các cháu Nguyễn Huy K và Nguyễn Linh Đ1 trong thời gian chị Nguyễn Thị M ở nước ngoài.

Anh Nguyễn Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị M chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012926 ngày 13/6/2024.

5. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, bị đơn anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị T, ông Nguyễn Tứ N có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP, Tòa GĐ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mai Khanh Trần Xuân T1

Nguyễn Thị Thu T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 385/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 385/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ Nguyễn Thị M - Nguyễn Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger