Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 384/2024/DS-PT

Ngày 30 tháng 8 năm 2024

V/v: "T/C HĐ vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Phước Đại
  • - Các Thẩm phán: Ông Trương Hoài Bình
  • Bà Nguyễn Thị Trang Thư
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 191/2024/TLPT-DS, ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 99/2024/DS-ST ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 333/2024/QĐPT-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lê Anh Đ, sinh năm: 1972;
  • Địa chỉ: Số H đường T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Thanh S (Văn bản ủy quyền ngày 27/6/2023)
  • - Bị đơn: Bà Huỳnh Thụy Bảo T, sinh năm: 1977.
  • Địa chỉ: Số B đường C T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lâm Văn K, sinh năm 1980 (Theo Văn bản ủy quyền ngày 28/8/2024)
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thanh B – Thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày: Ông Lê Anh Đ và bà Huỳnh Thụy Bảo T là chỗ quen biết, do cần tiền để kinh doanh nên bà T đã vay của ông Đ 6.213.000.000 đồng, bà T tự nguyện hỗ trợ lại tiền lãi suất 3%/tháng, đóng lãi hàng tháng với số tiền 186.390.000 đồng (kể từ ngày 04/6/2022); kỳ hạn đến ngày 04/9/2022 trả tiền nợ gốc 6.213.000.000 đồng. Ông Đ và bà T đã làm Giấy xác nhận mượn tiền có bà Lê Phương O làm chứng. Đến kỳ hạn đóng lãi hàng tháng bà T thực hiện không đầy đủ và không đúng hạn; đến ngày trả nợ gốc bà T lẩn tránh, không thực hiện. Đến ngày 04/6/2023, ông Đ yêu cầu bà T xác nhận nợ gốc là 6.213.000.000 đồng và tiền lãi từ tháng 7 năm 2022 đến tháng 6 năm 2023 là 2.236.680.000 đồng, đối trừ số tiền đã trả cho ông Đ 90.000.000 đồng, còn lại 2.146.680.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà T phải trả cho ông Đ là 8.359.680.000 đồng (trong đó nợ gốc 6.213.000.000 đồng, nợ lãi suất 2.146.680.000 đồng). Ông Đ đã nhiều lần yêu cầu bà T thanh toán tiền lãi hàng tháng và tiền nợ gốc đã quá hạn nhưng bà T không thực hiện. Do đó ông Đ khởi kiện yêu cầu bà T trả tổng cộng 8.359.680.000 đồng (Trong đó nợ gốc 6.213.000.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến này 04/6/2023 là 2.214.680.000 đồng).

Tại bản tự khai ngày 05/01/2024, bị đơn trình bày:

Ông Đ có mượn giùm cho bà tiền của chị Lê Thu C tổng số tiền 2.500.000.000 đồng nhưng do bà đóng lãi không đủ với thời gian mượn khoảng 3 năm nên Anh Đ xin cộng dồn vốn và lãi. Vào ngày 04/6/2022 bà ký giấy nợ là 6.213.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng, Cụ thể như sau:

  • - Mượn lần 1: Khoảng tháng 11/2019: Bà mượn 100.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng đưa cho bà 90.000.000 đồng (tức đóng trước 01 tháng tiền lãi) (giấy nợ bà ghi tên Lê Thu C, Lê Anh Đ là người làm chứng).
  • - Mượn lần 2: Khoảng tháng 12/2019: Bà mượn 200.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng đưa cho bà 180.000.000 đồng (tức đóng trước 01 tháng tiền lãi) (người đứng tên cho vay là Lê Thu C, Lê Anh Đ là người làm chứng).
  • - Mượn lần 3: Tháng 3/2020, bà mượn 1.000.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng, đưa cho bà 900.000.000 đồng (đóng trước 01 tháng tiền lãi) (người đứng tên cho vay là Lê Thu C, Lê Anh Đ là người làm chứng);
  • - Mượn lần 4: Bà mượn 400.000.000 đồng (không nhớ ngày);
  • - Mượn lần 5: Bà viết giấy 1.000.000.000 đồng mượn, Anh Đ đưa bà được khoảng 140 mấy triệu (vì trừ lãi do bà không đóng của các khoản nợ trên);

Bà đóng lãi được khoảng 500.000.000 đồng (bằng chuyển khoản + tiền mặt). Sau đó Anh Đ cộng cả lãi và vốn lại cho bà hơn 3.000.000.000 đồng (bà ký giấy nợ); Trước 15/10/2021, Đ cho bà lãi suất 10%/tháng và 8%/tháng; Ngày 15/10/2021, Đ cộng lãi và vốn bà thành 4 tỷ 500 triệu đồng với lãi suất 6%/tháng; Ngày 04/3/2022, Đ cộng lãi và vốn thành 5.700.000.000 triệu đồng với lãi suất 3%/tháng (lúc này chị C bắt anh phải kí giấy nợ với chị); Ngày 04/6/2022, Đ cộng lãi và vốn bà thành 6.213.213.000 triệu đồng với lãi suất 3%/tháng, bà kí giấy nợ với Anh Đ. Anh Đ thấy hoàn cảnh bà khó khăn nên Anh Đ tự xin chị C giảm phần lãi suất cho bà. Do chỗ Anh Đ nhắc bà nhiều lần nhưng bà không đóng lãi nên ngày 15/10/2022, Đ ủy quyền cho Phan Thanh V (không có công chứng) đến nhà bà đòi nợ. Phan Thanh V mỗi lần đến đòi nợ bà, Vũ dắt theo 2 thanh niên tên T1 và D. Đến vài lần đầu thì họ nói chuyện nhỏ nhẹ, bà vẫn mở cửa cho vào nhà. Nhưng về sau khi đến nhà bà thì Tuấn 1 chửi bà từ đầu hẻm đến cửa nhà (có ghi âm lại). Ngày 17/12/2022, cả 3 đến nhà la lối đòi tiền - chửi 1 ngày 2 lần (trưa 11h và tối 18h). Khi bà mượn tiền Anh Đ đi mượn giùm bà, bà có nói cho anh biết do bà cần tiền buôn bán và có bị nợ lãi cao 30% nên anh giúp bà mượn chỗ lãi rẻ hơn để trả nợ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2024/DS-ST ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân quận quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Anh Đ khởi kiện tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Huỳnh Thụy Bảo T như sau:

  • - Về số nợ: Buộc bị đơn bà Huỳnh Thụy Bảo T phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Lê Anh Đ tổng số tiền nợ là 7.313.218.490 đồng (Bảy tỷ, ba trăm mười ba triệu hai trăm mười tám nghìn bốn trăm chín mươi đồng) (Trong đó nợ gốc: 6.213.000.000 đồng (Sáu tỷ, hai trăm mười ba triệu đồng), nợ lãi tính từ ngày 04/6/2022 đến ngày 07/5/2024 số tiền là 1.101.218.490 đồng, trong nợ lãi đã trừ số tiền đã nhận 90.000.000 đồng) là dứt nợ.
  • - Về thời gian trả nợ và cách trả nợ: Các bên đương sự tự thỏa thuận nếu không thống nhất thực hiện được sẽ yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự giải quyết theo thẩm quyền.
  • - Về lãi suất: Căn cứ Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; ngày tính lãi tiếp theo là ngày 08/5/2024 tương ứng với số tiền nợ gốc và thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi án sơ thẩm tuyên ngày 21/5/2024 ông Lê Anh Đ kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện và áp dụng lãi suất 1,666%/tháng đối với toàn bộ khoản vay của nguyên đơn.

Ngày 30/5/2024 bà Huỳnh Thụy Bảo T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Bị đơn giữ nguyên kháng cáo và yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
  • - Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình cho rằng cấp sơ thẩm chưa xem xét toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Các bên chưa đối chiếu hoặc xác nhận số nợ. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm và đề nghị:

Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu tính lãi suất 20%/năm là phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn kháng cáo cho rằng ký giấy xác nhận nợ trong trường hợp bị ép buộc, đe dọa là không có căn cứ. Vì vậy căn cứ vào giấy xác nhận nợ để buộc bị đơn trả nợ gốc và lãi là có căn cứ. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và xác định quan hệ pháp luật là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu tính lãi 20%/năm (tương ứng 1,66%/tháng) thấy rằng: Khi khởi kiện, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là “Giấy xác nhận mượn tiền ngày 04/6/2022”. Bị đơn thừa nhận có ký vào giấy xác nhận nợ này, không có căn cứ cho rằng đã ký trong trường hợp bị ép buộc hoặc đe dọa. Do đó đây là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó thì bị đơn nợ nguyên đơn tổng số tiền gốc là 6.213.000.000 đồng và tiền hỗ trợ 03%/tháng chính là lãi suất. Do đó, hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi. Vì vậy nguyên đơn yêu cầu lãi là 20%/năm tương ứng 1,666%/tháng phù hợp theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Thời gian tính lãi từ ngày 04/6/2022 tạm tính đến ngày 07/5/2024 là 23 tháng 03 ngày, số tiền lãi là 2.382.436.980 đồng. Nguyên đơn đồng ý trừ lại số tiền đã nhận 90.000.000 đồng là phù hợp. Do đó kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất 10%/năm là không phù hợp.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng: Tại “Bản tự khai” ngày 05/01/2024 bị đơn thể hiện có ký xác nhận số nợ gốc ngày 04/6/2022 là 6.213.000.000 đồng là trùng khớp với nội dung yêu cầu và nội dung số tiền gốc theo giấy xác nhận mượn tiền ngày 04/6/2022 của nguyên đơn cung cấp. Bị đơn cung cấp chứng cứ “Giấy xác nhận mượn tiền ngày 15/10/2011 giữa bà Huỳnh Thụy Bảo T và bà Lê Thu C (số tiền 4.500.000.000 đồng bản pho to); Giấy xác nhận mượn tiền ngày 04/3/2022 giữa bà Huỳnh Thụy Bảo T và ông Lê Anh Đ (số tiền 5.700.000.000 đồng, bản pho to)” nội dung hai chứng cứ bị đơn bà Huỳnh Thụy Bảo T cung cấp không có liên quan đến nội dung “Giấy xác nhận mượn tiền ngày 04/6/2022 và Bảng tổng hợp tiền nợ ngày 04/6/2023"

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của bị đơn vẫn thừa nhận có ký vào “Giấy xác nhận mượn tiền ngày 04/6/2022”, cho rằng bị đơn bị đe dọa, ép buộc nên mới ký vào “Giấy xác nhận mượn tiền”. Tuy nhiên bị đơn không có chứng cứ để chứng minh việc bị đơn bị đe dọa hoặc ép buộc nên chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý. Đây là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo “Giấy xác nhận mượn tiền ngày 04/6/2022” thì bị đơn nợ nguyên đơn tổng số tiền gốc là 6.213.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng, số tiền này là tổng hợp và cộng dồn các khoản nợ trước đó bao gồm vốn và lãi, trong đó có lãi suất rất cao. Tuy nhiên việc cộng dồn đó bị đơn không có chứng cứ gì để chứng minh, đồng thời nguyên đơn cũng không thừa nhận. Việc ký vào “Giấy xác nhận mượn tiền ngày 04/6/2022” là tự nguyện, không có căn cứ cho rằng bị đơn đã ký trong trượng hợp bị ép buộc. Do đó bị đơn phải trả nợ gốc và lãi 20%/năm như đã phân tính nêu trên là phù hợp.

[5] Bị đơn kháng cáo và có cung cấp chứng từ chuyển khoản ngân hàng và cho rằng đã chuyển tiền cho nguyên đơn để đóng lãi cho bà C. Bị đơn cho rằng không nợ nguyên đơn nên số tiền chuyển khoản này sẽ khởi kiện thành vụ án khác. Do đó không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu. Bị đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu 300.000 đồng.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn yêu cầu hủy án sơ thẩm là không có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • - Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
  • - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
  • - Sửa một phần bản án sơ thẩm (về phần án phí)

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

[2] Buộc bà Huỳnh Thụy Bảo T phải trả cho ông Lê Anh Đ tổng số tiền 8.505.436.980 đồng (Trong đó nợ gốc 6.213.000.000 đồng, nợ lãi 2.292.436.980 đồng.

[3] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/5/2024) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thụy Bảo T phải chịu là 116.505.000 đồng. Ông Lê Anh Đ được nhận lại 58.180.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001329, ngày 11/07/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

[5] Về án phí phúc thẩm: Bà Huỳnh Thụy Bảo T phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ 300.000 đồng theo Biên lai số 0001463 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Đã nộp xong. Trả lại cho ông Lê Anh Đ 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001415, ngày 04/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

[8] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPCT;
  • - TAND Q. Ninh Kiều;
  • - Các đương sự;
  • - CCTHADS Q. Ninh Kiều;
  • - UBND xã, TT nơi đ/s cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Phước Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 384/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 384/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger