Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐĂK LĂK

Bản án số: 384/2023/HS-ST

Ngày : 27 – 12 – 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.

Ông Trương Vĩnh Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tham gia

phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 27/12/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 386/2023/HSST ngày 23/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2023/QĐXXST-HS ngày 14/12/2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị L; Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 30 tháng 01 năm 1960; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 2/9. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã mất); Con bà: Nguyễn Thị G, sinh năm: 1941. Hiện trú ở: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Gia đình bị cáo có chín chị em ruột. Bị cáo là con cả trong gia đình, có chồng là Nguyễn Kim V (đã chết) và có 03 con.

Về nhân thân: Ngày 17 tháng 01 năm 2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo bản án số: 14/2013/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Lê Văn V1; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1972; Tại: An Giang. Hộ khẩu thường trú: Tổ H, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Chỗ ở: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo hòa hảo. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Con ông: Lê Văn T (chết), sinh năm: 1952; Con bà: Võ Thị L1, sinh năm: 1950. Bị cáo chưa có vợ con.

Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Võ Thị C; Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
  2. Ông Trần Văn D; Địa chỉ: Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ2; (Vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Kim T1; Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt).
  4. Anh Lê Văn H; Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt).
  5. Anh Cao Hữu Đ1; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt).
  6. Anh Hoàng Văn T2; Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Đoàn Văn T3; Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt).
  2. Ông Dương Thế N; Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Văn D1; Địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt).
  4. Ông Phạm Trung N1; Địa chỉ: Xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp ổn định nên vào đầu tháng 6 năm 2023, Nguyễn Thị L liên lạc với người đàn ông chạy xe ôm (chưa xác định được nhân thân lai lịch) ở khu vực km C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mua ma túy Heroine với giá 100.000 đồng/gói về bán lại với giá 200.000 đồng/gói để kiếm lời. Cứ mỗi lần bán hết, L tiếp tục liên hệ mua về bán cho nhiều người khác nhau.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, Lê Văn V1, sinh năm 1972, trú ở: Tổ H, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang đến sinh sống với Lliên gia A, tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 16 tháng 8 năm 2023, L một mình đi xe ôm đến khu vực km3, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk gặp người đàn ông chạy xe ôm hỏi mua bốn gói ma túy Heroine thì người này đồng ý bán và nói sẽ giao ma túy sau. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, người này đến nhà L bán cho L bốn gói ma túy Heroine với giá 400.000 đồng. L mang bốn gói ma túy Heroine cất trong nhà và cùng với V1 bán được các lần, thu lợi bất chính như sau:

Lần 1: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8 năm 2023, Cao Hữu Đ1 (Sinh năm: 1997, trú tại: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) đi xe ôm từ khu vực chợ T4 đường V, thành phố B đến nhà L hỏi mua 200.000 đồng ma túy H1, L đồng ý bán rồi vào trong nhà lấy một gói ma túy H1 đưa cho V1 ra trước nhà bán cho Đ1. Lê Văn V1 biết đây là ma tuý nhưng vẫn đồng ý mang số ma tuý này giao cho Đ1 và thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng rồi đưa lại cho L. Tại cơ quan điều tra L, V1Đ1 đều xác nhận L, V1 là người bán ma túy Heroine vào ngày 17 tháng 8 năm 2023 cho Đ1Đ1 đã sử dụng hết.

Lần 2: Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, Hoàng Văn T2 (Sinh năm: 1989, trú ở: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk) đi xe ôm từ khu vực chợ P, thành phố B đến nhà L hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine, L đồng ý và trực triếp bán cho T2 một gói ma túy H1, thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng. Tại cơ quan điều tra LT2 đều xác nhận L là người bán ma túy Heroine vào ngày 17 tháng 8 năm 2023 cho T2T2 đã sử dụng hết.

Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, khi Nguyễn Thị L, Lê Văn V1 đang ở nhà thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ trên nền nhà hai gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng, L khai nhận là ma túy Heroine cất với mục đích bán kiếm lời. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong hai gói giấy bạc vào hai phong bì thư ký hiệu M1, M2 theo quy định của pháp luật và khám xét chỗ ở của L không thu giữ được đồ vật gì .

Tại bản kết luận giám định số: 1012/KL-KTHS ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • + Phong bì thư ký hiệu M1: Chất bột màu trắng bên trong một gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0665 gam, loại: Heroine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0342 gam và toàn bộ bao gói đựng mãu vật gửi giám định ban đầu.
  • + Phong bì thư ký hiệu M2: Chất bột màu trắng bên trong một gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0314 gam, loại Heroine. Không hoàn lại mẫu (mẫu đã sử dụng hết để giám định) và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Tại Bản cáo trạng số 380/CT-VKS ngày 22/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Lê Văn V1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ Luật Hình sự.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và Bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị HĐXX:

  • - Áp dụng tại điểm b khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị L mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
  • - Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Văn V1 mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • - Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 0,0342 gam Heroine còn lại trong phong bì thư ký hiệu M1 và toàn bộ bao gói đựng mẫu trong phong bì thư ký hiệu M2 sau giám định trong gói niêm phong số: 1012/KL-KTHS ngày 24 tháng 8 năm 2023 của phòng K Công an tỉnh Đ.
  • + Trả lại: Cho bị cáo Nguyễn Thị L một điện thoại di động kiểu dáng Sam Sung màu vàng, khe sim 1 số 0344.917.574, khe sim 2 số 0896.404.431 và bị cáo Lê Văn V1 một điện thoại di động kiểu dáng Vivo màu xanh đen gắn sim số 0378.367.738.
  • + Truy thu, sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 400.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị L.

Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì đối với hành vi đã thực hiện, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về các quyết định và hành vi tố tụng đó. Do vậy, quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo:

Căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại căn nhà thuộc liên gia A, tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố B bắt quả tang Nguyễn Thị L, Lê Văn V1 có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ 0,0979 gam ma túy Heroine của L cất với mục đích bán kiếm lời. Trước đó, vào khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, L đưa một gói ma túy Heroine cho V1 ra trước nhà bán cho Cao Hữu Đ1 thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, L trực tiếp bán một gói ma túy Heroine cho Hoàng Văn T2 thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng.

Hành vi của Nguyễn Thị L là phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Lê Văn V1 là phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) ......

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, hành vi của các bị cáo còn là một trong những nguyên nhân gây nên các căn bệnh xã hội, các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Các bị cáo nhận thức được mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về các biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 0,0342 gam Heroine còn lại trong phong bì thư ký hiệu M1 và toàn bộ bao gói đựng mẫu trong phong bì thư ký hiệu M2 sau giám định trong gói niêm phong số: 1012/KL-KTHS ngày 24 tháng 8 năm 2023 của phòng K Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với một điện thoại di động kiểu dáng Sam Sung màu vàng kèm sim của Nguyễn Thị L và một điện thoại di động kiểu dáng Vivo màu xanh đen kèm sim của Lê Văn V1 là các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - Đối với số tiền 400.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy mà Nguyễn Thị L đã thu được cần truy thu sung ngân sách Nhà nước.

[6] Các nội dung khác:

  • - Đối với nguồn ma túy, bị cáo L khai nhận mua của người đàn ông chạy xe ôm tại khu vực km C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình điều tra, vẫn chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tách hành vi bán trái phép chất ma túy của người này ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau là phù hợp.
  • - Đối với Cao Hữu Đ1Hoàng Văn T2 có hành vi mua trái phép chất ma túy vào ngày 17 tháng 8 năm 2023 của L nhưng đã sử dụng hết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp.
  • - Đối với anh Lê Văn H, sinh năm 1991, trú ở tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk chạy xe ôm không biết việc chở Hoàng Văn T2 đi mua ma túy vào ngày 17 tháng 8 năm 2023 nên không đề cập xử lý là phù hợp.
  • - Đối với người đàn ông chạy xe ôm chở Cao Hữu Đ1 từ khu vực chợ T4 đường V, thành phố B đến khu vực nghĩa địa cũ đường P, thành phố B vào ngày 17 tháng 8 năm 2023. Quá trình điều tra, vẫn chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau là phù hợp.
  • - Đối với căn nhà tại liên gia A, tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, nơi bị cáo L cất giấu ma túy. Quá trình điều tra, xác minh căn nhà được xây dựng trên thửa đất do ông Võ N2Võ Thị X (đã chết) đứng tên đăng ký sở hữu. Sau đó bà Võ Thị C, sinh năm: 1943, trú ở: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (con ông N2X) quản lý. Thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì các chủ sở hữu không biết nên không đề cập xử lý là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Thị L là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi nên được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điêu 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị LLê Văn V1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị L mức án 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 17/8/2023.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 251; các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Văn V1 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 17/8/2023.
  4. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 0,0342 gam Heroine còn lại trong phong bì thư ký hiệu M1 và toàn bộ bao gói đựng mâu trong phong bì thư ký hiệu M2 được niêm phong trong gói niêm phong số: 1012/KL-KTHS ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
    • - Trả lại cho: Bị cáo Nguyễn Thị L một điện thoại di động kiểu dáng Sam Sung màu vàng kèm sim và bị cáo Lê Văn V1 một điện thoại di động kiểu dáng Vivo màu xanh đen kèm sim, bị nứt màn hình nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
    • (Vật chứng hiện đang lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2023 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
    • - Truy thu của Nguyễn Thị L số tiền 400.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Các bị cáo Nguyễn Thị L được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
    • - Bị cáo Lê Văn V1 phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Đắk Lắk:VKSND TP . BMT;
  • -TAND tỉnh Đắk Lắk; Công an TP . BMT;
  • -CCTHA DSTP.BMT, THA phạt tù;
  • -Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • -Các đương sự;
  • -Chánh án;
  • - Lưu: HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hải An

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 384/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK về mua bán trái phép chất ma tuý (hình sự)

  • Số bản án: 384/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L và Lê Văn V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger