Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 384/2024/DS-PT

Ngày: 24/7/2024

V/v: tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu

cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Lợi;

Ông Nguyễn Phan Nam.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Hương Thùy – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 171/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 7588/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1978; nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Vũ Trường H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số C, phố P, khu đô thị H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, có mặt tại phần tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Anh Phạm Quốc H1; địa chỉ: Số C P, khu đô thị H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Hồng T1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
  2. Địa chỉ: Số I, L, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt P – Chủ tịch UBND thành phố V. Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn P1 - Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V. Vắng mặt.

  3. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V.
  4. Địa chỉ: Đường H, phường Đ, thành Phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Kim T2 – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V. Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung T3 - Phó giám đốc Văn phòng Đ1 chi nhánh V1. Vắng mặt.

  5. Bà Lê Thị Hồng H2, sinh năm 1966; nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
  6. Bà Đoàn Thị Hải A, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
  7. Người đại diện theo ủy quyền của bà H2 và bà Hải A: Ông Vũ Trường H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số C, phố P, khu đô thị H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, có mặt tại phần tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm.

  8. Bà Trần Thị Hiền N, sinh năm 1962; Có mặt.
  9. Chị Lê Hồng N1, sinh năm 1984; Có mặt.
  10. Anh Nguyễn Đình T4, sinh năm 1985; Vắng mặt.
  11. Anh Lê Văn T5, sinh năm 1992; Vắng mặt.
  12. Đều cư trú tại: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Hiền N: Chị Lê Hồng N1.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị Hiền N: Luật sư Trần Quang V – Văn phòng Luật sư Văn L, chi nhánh V1, Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Lê Văn T trình bày:

Bố mẹ đẻ của ông Lê Văn T là cụ Lê Văn Đ (chết năm 1979) và cụ Nguyễn Thị H3 (chết năm 1992); cụ Đ, cụ H3 sinh được 03 người con là ông Lê Hồng T1, bà Lê Thị Hồng H2 và ông Lê Văn T. Ngoài ra, cụ Đ, cụ H3 không có người con nuôi, con riêng nào khác, bố mẹ cụ Đ, cụ H3 đều đã chết trước cụ Đ, cụ H3.

Cụ Đ, cụ H3 có tài sản chung là thửa đất diện tích đất 162,0m² đất ở và 657m² (Trong đó 200m² đất ở + 457m² đất vườn) đều ở khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi chết cụ Đ chưa chia đất cho ai và cụ Đ cũng không để lại di chúc. Năm 1991, cụ H3 đã chia cho ông T1 một phần diện tích đất là 162,0m² và ngày 07/7/1994 UBND thị xã V, tỉnh Vĩnh Phú đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSD đất) cho ông T1 đối với diện tích đất này. Ngày 28/5/2003, ông T1 tự đi kê khai phần đất còn lại của cụ Đ, cụ H3 để lại là 657m² (Kê khai lần đầu) và ngày 15/7/2003 ông Lê Hồng T1 được UBND thị xã V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất này (Trong đó: 200m² đất ở + 457m² đất vườn). Cùng ngày 20/7/2003, vợ chồng ông T1, bà N đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Xuân T6 diện tích 50m² đất ở, chuyển nhượng cho ông Đinh Văn P2 53m² (Trong đó: 50m² đất ở + 03m² đất vườn) thuộc thửa đất có diện tích 657m² đã được cấp GCNQSD đất, còn lại 554m² đất (Trong đó có 100m² đất ở + 454m² đất vườn), ông T1 được UBND thị xã V cấp đổi GCNQSD đất ngày 31/7/2003.

Năm 2008, ông T đã xây dựng nhà ở trên một phần diện tích đất của cụ Đ, cụ H3 để lại và sinh sống trên phần diện tích đất từ đó cho đến nay, có diện tích là 201,9m².

Ngày 23/9/2013, vợ chồng ông T1, bà N tiếp tục chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị C 72m² (Trong đó có: 30m² đất ở + 42m² đất vườn) thuộc thửa đất có diện tích 554m² đã được cấp GCNQSD đất, còn lại 482m² đất (Trong đó 70m² đất ở + 412m² đất vườn).

Đối với thửa đất số 260, diện tích 162m² đất ở, tờ bản đồ số 12 thì ngày 30/10/2016, vợ chồng ông T1, bà N đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị C 84m² đất ở, còn lại 78m² đất ở.

Tháng 9/2021, ông T1 có đơn đề nghị cấp GCNQSD đất, nhập thửa đất số 260, tờ bản đồ 12, diện tích còn lại là 78m² và thửa số 24, tờ bản đồ số 72, diện tích còn lại 482m²; ngày 30/9/2021, Sở tài nguyên môi trường tỉnh V cấp GCNQSD đất cho hộ ông Lê Hồng T1 được quyền sử dụng diện tích 551m² đất (Trong đó: 148m² đất ở + 403m² đất vườn), trong GCNQSD đất có ghi chú: Hộ ông Lê Hồng T1 với diện tích 473,0m² được xác định tại thời điểm cấp GCNQSD đất số U498391, số vào số 00014, cấp ngày 31/7/2003 và ông Lê Hồng T1 với diện tích 78m² đất ở được xác định tại thời điểm cấp GCNQSD đất số D0586597, số vào sổ 00717, cấp ngày 07/7/1994.

Ông T xác định phần diện tích 162,0m² đất ở mà cụ H3 cho ông T1 từ năm 1991, cụ H3 chỉ được quyền cho ông T1 ½ tức 81,0m² đất ở, phần còn lại 81,0m² đất ở là của cụ Đ, nhưng vì ông T1 đã chuyển nhượng cho bà C 84m² đất ở nên ông T chấp nhận phần diện tích còn lại 78m² đất ở là di sản của cụ Đ để lại.

Đối với phần diện tích 657m² đất là di sản do cụ Đ và cụ H3 để lại, sau khi chuyển nhượng cho 03 người là ông T6, ông P2 và bà C thì ông T không đề nghị Tòa án giải quyết. Còn nếu vợ chồng ông T1, bà N đòi thanh toán công sức thì phần đất mà ông T1, bà N đã chuyển nhượng cho 04 người như đã nêu trên sẽ tính vào phần thanh toán công sức cho vợ chồng ông T1, bà N; phần diện tích còn lại là 482m² đất (Trong đó: 70m² đất ở + 412m² đất vườn) là tài sản chung của cụ Đ và cụ H3 để lại, kỷ phần của mỗi người là 241m² (gồm 35m² đất ở + 206m² đất vườn).

Ngày 09/8/2022, Tòa án tiến hành thẩm định đo đạc thực tế đối với phần đất còn lại của cụ Đ, cụ H3 để lại. Sau khi ông T1 đã chuyển nhượng cho 04 lần cho 03 người với diện tích là 259m² đất (Trong đó 214m² đất ở + 45m² đất vườn) thì phần còn lại là: 561,5m² đất (Gồm: 148m² đất ở + 413,5m² đất vườn). Trong đó, phần diện tích đất ông T đang quản lý, sử dụng là 201,9m² + Phần diện tích đất vợ chồng ông T1, bà N đang quản lý sử dụng + lối đi chung của nhà ông T1, bà N và ông T + Rãnh thoát nước chung của nhà ông T1, bà N và nhà ông T là 359,6m², tăng 10,5m² đất so với GCNQSD đất cấp cho hộ ông T1 ngày 30/9/2021. Ông T cho rằng phần diện tích đất tăng thêm là do sai số do đo đạc, ông T xác nhận toàn bộ thửa đất đang tranh chấp vẫn giữ nguyên hiện trạng mốc giới từ trước đến nay, có khuôn viên riêng, rõ ràng, không tranh chấp với các hộ liền kề, không lấn ra đất công.

Ông T xác định trong số diện tích đất này thì phần của cụ Đ là 241m² (gồm 35m² đất ở + 206m² đất vườn) + 78m² đất ở = 319m² đất (Gồm: 113m² đất ở + 206m² đất vườn), phần còn lại là của cụ H3 = 242,5m² (Gồm 35m² đất ở + 207,5m² đất vườn). Do cụ Đ chết năm 1979 nên thời hiệu chia di sản thừa kế đối với di sản của cụ Đ để lại đã hết. Năm 2008, ông T đã ở trên đất của cụ Đ, cụ H3 để lại và đã có khuôn viên riêng, nay đo đạc thực tế phần đất ông T đang ở có diện tích là 201,9m². Trên phần diện tích đất đang tranh chấp hiện nay có vợ chồng ông T, vợ chồng ông T1 và các con ông T1, bà N đang ở trên đất.

Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Tuyên hủy GCNQSD đất số U498391, số vào sổ 00014QSDĐ/QĐ-UB do UBND thị xã V (nay là UBND thành phố V) cấp ngày 31/7/2003 mang tên hộ ông Lê Hồng T1. Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm, ông T xin rút yêu cầu hủy GCNQSD đất này vì GCNQSD đất này hiện nay không còn tồn tại.
  • - Tuyên hủy GCNQSD đất số DD673805, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 30/9/2021 cho hộ ông Lê Hồng T1 được quyền sử dụng 551m² đất (Trong đó: 148m² đất ở + 403m² đất vườn).
  • - Đề nghị Tòa án xác nhận cho ông T được quyền sử dụng 201,9m² đất (Gồm 70m² đất ở + 131,9m² đất vườn) là một phần di sản của cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế.
  • - Đối với diện tích đất còn lại 359,6m² (Gồm một phần di sản của cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế và phần di sản của cụ H3 để lại) sau khi cắt 71,9m² đất vườn làm lối đi chung, cắt 4,7m² đất vườn làm rãnh thoát nước chung, phần còn lại là 283m² (Gồm 78m² đất ở + 205m² đất vườn) để cho ông T1.
  • Về chi phí tố tụng: Ông T tự nguyện chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và tiền chi phí định giá tài sản.

Bị đơn là ông Lê Hồng T1 trình bày: Ông T1 thừa nhận các nội dung mà ông Lê Văn T trình bày là đúng. Ông T1 khẳng định toàn bộ diện tích đất 551m² (đo đạc thực tế là 561,5m²) đang tranh chấp là tài sản chung của cụ H3, cụ Đ để lại. Năm 1979, cụ Đ chết không để lại di chúc, năm 1991 cụ H3 tặng cho ông T1 01 phần diện tích đất là 162m² đất ở và ngày 7/7/1994 ông T1 đã được UBND thị xã V cấp GCNQSD 162,0m² đất ở là đúng. Ông T1 cũng nhất trí với lời trình bày của ông T là cụ H3 chỉ có quyền tặng cho ông T1 81m² đất ở, còn lại 81m² đất ở là của cụ Đ, nhưng vì ngày 30/10/2016 ông T1, bà N đã chuyển nhượng cho bà C 84m² đất ở. Nên ông T1 nhất trí với lời trình bày của ông T là phần diện tích 78m² đất ở còn lại là của cụ Đ.

Năm 2003, ông T1 tự ý đi kê khai phần diện tích đất 657m² đất còn lại của cụ Đ, cụ H3 và được cấp GCNQSD đất (Trong đó 200m² đất ở + 457m² đất vườn). Đến ngày 20/7/2003 và ngày 23/9/2013 ông T1, bà N đã chuyển nhượng cho 03 người là ông T6, ông P2 và bà C với tổng diện tích là 175m² (Trong đó 130m² đất ở + 45m² đất vườn). Nay thửa đất diện tích 657m² chỉ còn lại là 482m² (Gồm có 70m² đất ở + 412m² đất vườn). Ông T1 nhất trí với ông T là diện tích đất 482m² (Gồm có 70m² đất ở + 412m² đất vườn) là tài sản chung của cụ Đ và cụ H3 để lại.

Năm 2021, ông T1 đi làm thủ tục nhập 02 thửa đất thành một thửa, nên ngày 30/9/2021 UBND thành phố V đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông T1 là 551m² đất (Trong đó: 148m² đất ở + 403m² đất vườn), kết quả đo đạc thực tế ngày 09/8/2022 là 561,5m² (Gồm 148m² đất ở + 413,5m² đất vườn). Ông T1 xác định phần diện tích đất 561,5m² (Trong đó: 148m² đất ở + 413,5m² đất vườn) là tài sản chung của vợ chồng cụ Đ và cụ H3 để lại, năm 1991 cụ H3 đã cho ông T1 162m² đất ở và ông T1 đã chuyển nhượng cho bà C 84m² đất ở nên ông T1 cũng nhất trí với của ông T là tính đến thời điểm hiện nay di sản của cụ Đ còn lại là 319m² (Gồm: 113m² đất ở + 206m² đất vườn), di sản của cụ H3 còn lại là 242,5m² (Gồm 35m² đất ở + 207,5m² đất vườn).

Ông T1 nhất trí để cho ông T sử dụng 201,9m² đất (Gồm 70m² đất ở + 131,9m² đất vườn) là di sản của cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế. Còn phần diện tích 359,6m² là phần còn lại của cụ Đ và phần của cụ H3 để lại, phần đất này sẽ cắt đi 71,9 m² đất vườn làm lối đi chung, cắt đi 4,7 m² đất vườn làm rãnh thoát nước chung, phần còn lại là 283m² (Gồm 78m² đất ở + 205m² đất vườn) là của ông T1.

Ông T1 không đề nghị thanh toán công sức cho ông vợ chồng ông vì ông cho rằng sau khi cụ Đ và cụ H3 chết thì vợ chồng ông T1, bà N đã chuyển nhượng đất của cụ Đ và cụ H3 cho 04 người với diện tích là 259m² (Gồm 214m² đất ở + 45m² đất vườn) để chi tiêu cho vợ chồng, con cái ông T1. Phần 259m² đất này ông T không đề nghị chia nên ông T1 cũng không đề nghị thanh toán công sức.

Ông T1 đề nghị Tòa án miễn án phí giá ngạch chia thừa kế cho ông vì ông là người trên 60 tuổi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Hồng H2 trình bày: Bà Lê Thị Hồng H2 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H2 từ chối nhận di sản thừa kế của cụ H3 để lại. Ngoài ra bà H2 còn khẳng định chưa bao giờ bà được cụ H3 cho đất nên không có việc bà H2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T1, bà N 100m² đất như bà N đã trình bày tại Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Hiền N trình bày: Tài sản của cụ Đ và cụ H3 để lại chỉ có 286m² đất ở, diện tích đất còn lại là do vợ chồng bà N, ông T1 khai hoang mà có, đối với diện tích đất ông T1 đã chuyển nhượng là do khi còn sống cụ H3 tặng cho ông T1 nên bà N không có đề nghị gì. Phần diện tích còn lại hiện nay ông T1, ông T đang sử dụng là của vợ chồng bà nên bà không đồng ý với ông T là chia di sản thừa kế. Con gái bà là chị Lê Hồng N1 đã xây dựng 01 nhà cấp 4 trên đất và vợ chồng chị N1 đang sử dụng bà không có đề nghị gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Hồng N1 trình bày: Chị và anh T5 (chồng chị) có xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 để ở trên đất đang tranh chấp, khi xây dựng bố mẹ chị là ông T1 và bà N đã cho vợ chồng chị đất để vợ chồng chị xây nhà, việc cho đất chỉ nói miệng chứ không có văn bản giấy tờ gì, bố mẹ chị còn cho vợ chồng chị 30.000.000đ để chị xây nhà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đình T4: Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần anh T4 nhưng anh T4 cố tình trốn tránh không hợp tác, không đến phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn T5 trình bày: Anh là con ông T1, bà N, hiện nay anh đang ở cùng bà N ở trên diện tích đất đang tranh chấp, anh không có công sức gì đối với diện tích đất đang tranh chấp, anh cũng không có tài sản gì trên diện tích đất đang tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị Hải A trình bày: Ông Lê Văn T và bà Đoàn Thị Hải A kết hôn nhau năm 2007, sau khi kết hôn hai vợ chồng về ở tại căn nhà cấp 4 cũ do mẹ ông T để lại trên phần diện tích đất có tranh chấp. Đến năm 2010, vợ chồng ông T dỡ bỏ nhà cũ và xây 01 căn nhà mái bằng. Tiền xây nhà là của hai vợ chồng ông T, ngôi nhà được xây dựng trên diện tích đất ông T đang yêu cầu chia thừa kế. Hiện nay vợ chồng bà đang sinh sống tại căn nhà và diện tích đất trên. Về diện tích đất ông T đề nghị chia thừa kế thì bà không nắm rõ nguồn gốc, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc trình bày: Ngày 15/7/2003, UBND thị xã V (nay là thành phố V) cấp GCNQSD đất cho hộ ông Lê Hồng T1, số vào sổ: 02155 QSDĐ, tại thửa đất số 24, tờ bản đồ địa chính số 72, diện tích 657m², trong đó có 200m² đất ở + 457m² đất vườn.

Sau khi được cấp GCNQSD đất, hộ ông Lê Hồng T1 chuyển nhượng cho 02 hộ gia đình, cụ thể:

  • - Chuyển nhượng cho ông Nguyễn Xuân T6 50m² đất ở tại thửa đất số 24C, tờ bản đồ số 72, đã được UBND phường L xác nhận ngày 28/7/2003 và được UBND thị xã V ra Quyết định cấp GCNQSD đất số 769/QĐ-UB ngày 31/7/2003, số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00013.
  • - Chuyển nhượng cho ông Đặng Văn P3 53m² đất (Trong đó có 50m² đất ở + 03m² đất vườn) tại thửa đất số 24B, tờ bản đồ số 72, đã được UBND phường L xác nhận ngày 28/7/2003 và được UBND thị xã V ra Quyết định cấp giấy CNQSD đất số 769/QĐ-UB ngày 31/7/2003, số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00012, ngày 31/7/2003.

Thửa đất ông Lê Hồng T1 đề nghị cấp GCNQSD đất được UBND phường L xác nhận là đất thổ cư cũ và đã được UBND thị xã V cấp GCNQSD đất cũng như việc xác nhận mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Hồng T1 với ông Nguyễn Xuân T6 và ông Đặng Văn P3 là đúng theo trình tự quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V trình bày: Sở T làm thủ tục cấp GCNQSD đất cho ông Lê Hồng T1 theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 02 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Áp dụng khoản 5 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 39, Điều 219, Điều 227, Điều 228, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 616, 618, 620, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 32 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Lê Văn T về việc hủy GCNQSD đất số U498391 của UBND thị xã V (nay là UBND thành phố V) cấp ngày 31/07/2003 mang tên hộ ông Lê Hồng T1.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc hủy GCNQSD đất số DD673805 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 30/9/2021 cho ông Lê Hồng T1, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
  3. Xác nhận phần di sản thừa kế của cụ Đ để lại có diện tích là 319 m² (Gồm: 113 m² đất ở + 206 m² đất vườn) đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế; Phần di sản của cụ H3 để lại là 242,5 m² (Gồm 35 m² đất ở + 207, 5 m² đất vườn) sẽ chia thừa kế theo pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của T và ông T1 về việc tự phân chia đối với phần di sản của cụ Đ, của cụ H3 để lại, cụ thể là:
    • + Xác nhận ông T được quyền quản lý, sử dụng 201,9 m² đất (Trong đó đất ở là 70 m² + 131,9m² đất vườn) là phần di sản của cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế.
    • + Trích 71,9 m² đất vườn là một phần di sản của cụ H3 để lại làm lối đi chung cho nhà ông T và nhà ông T1.
    • + Trích 4,7 m² đất vườn là một phần di sản của cụ H3 để lại làm rãnh thoát nước chung cho nhà ông T và nhà ông T1.
    • + Xác nhận ông T1 được quyền quản lý, sử dụng 117,1 m² (Trong đó 43m² đất ở + 74,1 m² đất vườn) là một phần di sản của cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và chia cho ông T1 165,9 m² (Trong đó 35 m² đất ở + 130,9 m² đất vườn) là di sản thừa kế của cụ H3 để lại. Tổng diện tích đất ông T1 được hưởng, được chia là: 283 m² (Gồm 78m² đất ở + 205 m² đất vườn).
    • (Việc phân chia các phần đất như trong sơ đồ hiện trạng kèm theo Bản án sơ thẩm).
  4. Đối với các tài sản trên đất:
    • + Đối với 01 nhà cấp 4 diện tích 20,7m² của vợ chồng chị N1, anh T5 xây dựng trên phần đất chia cho ông T1 ( bố đẻ chị N1) do không ai đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
    • + Tài sản khác trên đất ông T được hưởng, trên đất ông T1 được chia, được hưởng do không ai đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  5. Các bên không phải thanh toán tiền chênh lệch về tài sản cho nhau vì không có ai yêu cầu.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng trong ngày 17/11/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Hiền N, chị Lê Hồng N1 kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vắng mặt; nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị N1, bà N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị N1, bà N thống nhất đề nghị hủy bản án sơ thẩm do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đánh giá chứng cứ không khách quan, không tiến hành đối chất khi các bên đương sự có lời khai mâu thuẫn nhau, thu thập chứng cứ không đầy đủ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Hiền N, chị Lê Hồng N1 trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Hiền N, chị Lê Hồng N1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Ông Lê Văn T khởi kiện đề nghị Tòa án phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn Thị H3 để lại theo quy định của pháp luật, xác định phần ông T, phần ông Lê Hồng T1 được hưởng đối với di sản của cụ Lê Văn Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và yêu cầu hủy GCNQSD đất đứng tên hộ ông Lê Hồng T1 do UBND thị xã V cấp ngày 31/7/2003 và huỷ GCNQSD đất do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 30/9/2021.

Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 5 Điều 26; Điều 34; khoản 1 Điều 37; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu hủy GCNQSD đất số U498391 của UBND thị xã V (nay là UBND thành phố V) cấp ngày 31/07/2003 mang tên hộ ông Lê Hồng T1 do ông Lê Văn T đã rút yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, một số đương sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; một số đương sự vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền; một số đương sự vắng mặt nhưng không có kháng cáo và đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nên căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử.

[1.3]. Về việc bà N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho rằng cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng về xác minh, thu thập chứng cứ, tống đạt quyết định tố tụng, HĐXX thấy rằng mặc dù cấp sơ thẩm có sai sót, tuy nhiên không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, do đó, đây không phải là căn cứ để hủy bản án sơ thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Hiền N, chị Lê Hồng N1, HĐXX thấy:

[2.1]. Về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế:

Cụ Lê Văn Đ (chết năm 1979) và cụ Nguyễn Thị H3 (chết năm 1992), đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2021 và Toà án thụ lý vụ án ngày 28/12/2021, do đó thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với di sản của cụ Đ để lại đã hết nhưng thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ H3 để lại vẫn còn. Cụ Đ, cụ H3 chết không để lại di chúc, do đó di sản cụ H3 để lại được chia thừa kế theo pháp luật. Còn di sản của cụ Đ để lại thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đang quản lý phần di sản nào thì người đó sẽ được quyền quản lý, sử dụng phần di sản đó theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự.

[2.2]. Về diện và hàng thừa kế: Cụ Đ, cụ H3 sinh được 03 người con là ông Lê Hồng T1, bà Lê Thị Hồng H2 và ông Lê Văn T. Quá trình giải quyết vụ án bà H2 có quan điểm từ chối nhận di sản thừa kế của hai cụ để lại, vì vậy, di sản thừa kế của cụ H3 để lại sẽ được chia cho 02 người là ông T1 và ông T.

[2.3]. Về di sản thừa kế và nguồn gốc, quá trình sử dụng đất:

[2.3.1]. Theo bản đồ 299, đo vẽ năm 1987 thửa đất đang tranh chấp là thửa số 260, diện tích 284m² đất thổ cư cũ nhưng chưa được cấp GCNQSD đất. Theo sổ mục kê 299, lập năm 1987, trang số 97, thửa số 260, diện tích 286m² thể hiện chủ sử dụng Nguyễn Thị H3. Theo bản đồ 299, có một phần diện tích đất chưa sử dụng, không thể hiện số tờ, số thửa, loại đất trên bản đồ 299 và sổ mục kê 299, vị trí thửa đất này nằm liền kề với thửa số 260, diện tích 286m² của cụ Nguyễn Thị H3; Theo bản đồ đo vẽ năm 2001, thửa số 24, diện tích 567,2m² và thửa số 58, diện tích 237,8m² người sử dụng Lê Hồng T1; tại Trang số 59, quyển số 02, sổ mục kê 2001, thửa số 24, diện tích 804,9m² đất thổ cư, người sử dụng Lê Hồng T1.

Ngày 15/7/2003, UBND thị xã V (nay là thành phố V) cấp GCNQSD đất cho hộ ông Lê Hồng T1 số vào sổ: 02155 QSDĐ, thửa đất số 24, tờ bản đồ địa chính số 72, diện tích 657m², trong đó: 200m² đất ở + 457m² đất vườn.

Mặc dù bà Trần Thị Hiền N (vợ ông T1) cho rằng khi cụ H3 còn sống, cụ đã cho ông T1 162m² đất ở và cho bà H2 120m² đất ở, ngày 02/10/1994 bà H2 đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà N nên cụ H3 không còn di sản thừa kế; đối với diện tích 657m² đất, bà N cho rằng thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng bà N, ông T1 do vợ chồng bà đã khai hoang thêm được, nên yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất này và yêu cầu hủy GCNQSD đất có liên quan là không có căn cứ; Tuy nhiên, trình bày của bà N là không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ: Các đồng thừa kế của cụ Đ, cụ H3 đều thừa nhận thửa đất 162,0m² đất ở và thửa đất 657m² (Trong đó có 200m² đất ở + 457m² đất vườn) đều ở khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là tài sản chung của cụ Đ, cụ H3 để lại. Mặt khác, theo lời khai của các nhân chứng sống gần gia đình nhà ông T1 từ thời điểm cụ H3 còn sống đều thể hiện: Ngoài phần đất mà cụ Đ, cụ H3 làm nhà ở, còn một phần đất ruộng mà cụ Đ, cụ H3 dùng để trồng rau muống và các loại rau khác. Sau này đất ruộng được gom vào với phần đất cụ Đ, cụ H3 xây nhà ở và có diện tích như bây giờ. Cụ thể tổng diện tích đất bây giờ là bao nhiêu, đã được cấp GCNQSD đất chưa thì không ai biết.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định: thửa đất có diện tích 162,0m² đất ở và thửa đất có diện tích 657m² (Trong đó có 200m² đất ở + 457m² đất vườn) đều ở khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là tài sản chung của cụ Đ, cụ H3 để lại.

[2.3.2]. Ông T1, ông T, bà H2 và bà N đều thừa nhận năm 1991, khi còn sống cụ H3 đã cho ông T1 162,0m² đất ở và ngày 07/7/1994 UBND thị xã V đã cấp GCNQSD đất cho ông Lê Hồng T1 được quyền sử dụng 162,0m² đất ở. Ông T cho rằng cụ H3 chỉ được quyền định đoạt cho ông T1 81m² đất ở, 81m² đất ở còn lại là của cụ Đ và ông T1 cũng nhất trí. Ngày 30/10/2016, vợ chồng ông T1, bà N đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị C 84m² đất ở, phần diện tích còn lại là 78m² đất ở được ông T và ông T1 thừa nhận đây là di sản của cụ Đ để lại.

Đối với phần diện tích 657m² tại phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là di sản do cụ Đ và cụ H3 để lại. Năm 2003, ông T1 tự ý đi kê khai và ngày 15/7/2003 hộ ông T1 được cấp GCNQSD 657m² (Trong đó: 200m² đất ở + 457m² đất vườn). Sau đó ngày 20/7/2003 và ngày 23/9/2013 vợ chồng ông T1, bà N đã chuyển nhượng cho 03 người là ông T6, ông P3 và bà C với tổng diện tích là 175m² (Trong đó 130m² đất ở + 45 m² đất vườn). Phần diện tích đất còn lại 482m² (Trong đó: 70m² đất ở + 412m² đất vườn) là tài sản chung của cụ Đ và cụ H3 để lại.

Ngày 30/9/2021, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh V đã cấp GCNQSD đất cho hộ ông Lê Hồng T1 được quyền sử dụng 551m² (Trong đó: 148m² đất ở + 403m² đất vườn) Trong GCNQSD đất có ghi chú: Hộ ông Lê Hồng T1 với diện tích 473,0m² được xác định tại thời điểm cấp GCNQSD đất số phát hành U498391, số vào số 00014 cấp ngày 31/7/2003 và ông Lê Hồng T1 với diện tích 78m² đất ở được xác định tại thời điểm cấp GCN D0586597, số vào sổ 00717, cấp ngày 07/7/1994. Kết quả thẩm định đo đạc thực tế ngày 09/8/2022 là A1 + A2 = 561,5m² (Trong đó phần diện tích đất ông T đang quản lý, sử dụng là A1 = 201,9m² + Phần diện tích đất vợ chồng ông T1, bà N đang quản lý sử dụng + lối đi chung của nhà ông T1, bà N và ông T + Rãnh thoát nước chung của nhà ông T1, bà N và nhà ông T là A2 = là 359,6m²).

Phần diện tích đất ông T1 chuyển nhượng 04 lần cho 03 người với diện tích là 259m² (Trong đó có 214m² đất ở + 45m² đất vườn) cho ông T6, ông P3 và cho bà C thì ông T1, bà N, ông T và bà H2 thống nhất không đề nghị xem xét giải quyết.

Như vậy, theo xác nhận của các đồng thừa kế của cụ Đ, cụ H3 thì đến thời điểm hiện tại, di sản của cụ Đ để lại là 319m² (Gồm: 113m² đất ở + 206m² đất vườn), di sản của cụ H3 để lại là 242,5m² (Gồm 35m² đất ở + 207,5m² đất vườn).

[2.4]. Về phân chia di sản thừa kế:

Năm 2008, ông T đã ở trên đất của cụ Đ, cụ H3 để lại và đã có khuôn viên riêng, nay đo đạc thực tế phần đất ông T đang ở có diện tích là 201,9m² (Trong đó đất ở là 70m² + 131,9m² đất vườn). Di sản của cụ Đ để lại là 319m² (Gồm: 113m² đất ở + 206m² đất vườn), quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, ông T1, ông T và bà H2 đều đề nghị Toà án xác nhận cho ông T được hưởng 201,9m² đất (Trong đó đất ở là 70m² + 131,9m² đất vườn) là di sản do cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, phần di sản của cụ H3 để lại đề nghị trích 71,9m² đất vườn là làm lối đi chung cho nhà ông T và nhà ông T1 và trích 4,7m² đất vườn làm rãnh thoát nước chung cho nhà ông T và nhà ông T1, phần di sản của cụ Đ, cụ H3 còn lại sẽ cho ông T1 quản lý, sử dụng toàn bộ. Việc thoả thuận này là hoàn toàn tự nguyện, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội nên được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Đối với 01 nhà cấp 4 diện tích 20,7m² của vợ chồng chị N1, anh T5 xây dựng trên phần đất chia cho ông T1 (bố đẻ chị N1) do không ai đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết; Tài sản khác trên đất ông T được hưởng, trên đất ông T1 được chia, được hưởng do không ai đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết; Các bên không phải thanh toán tiền chênh lệch về tài sản cho nhau vì không có ai yêu cầu là đúng quy định pháp luật.

[2.5]. Về tính công sức cho vợ chồng ông T1, bà N:

Khi bà N kết hôn với ông T1 thì cụ Đ không còn nữa (cụ Đ chết năm 1979), khi đó cụ H3 vẫn còn sống, đến năm 1992 thì cụ H3 chết, từ khi cụ H3 chết cho đến nay thì vợ chồng ông T1, bà N quản lý, sử dụng đất, nộp thuế đất và thờ cúng các cụ từ đó đến nay. Theo quy định thì phải trích một phần công sức cho vợ chồng ông T1, bà N tương xứng với công sức của hai vợ chồng bà N đã bỏ ra. Nhưng, sau khi cụ Đ, cụ H3 chết thì vợ chồng ông T1, bà N đã chuyển nhượng di sản của hai cụ để lại 04 lần cho 03 người (là ông T6, ông P3 và cho bà C) với tổng diện tích là 259m² (Trong đó có 214m² đất ở + 45m² đất vườn). Phần diện tích 259m² đất này ông T1, bà N là người được hưởng giá trị, ông T không đề nghị chia thừa kế nữa và có quan điểm nếu như tính công sức cho ông T1, bà N thì phần đất mà ông T1, bà N đã chuyển nhượng cho 04 người như đã nêu trên sẽ tính vào phần thanh toán công sức cho vợ chồng ông T1, bà N nên Tòa án cấp sơ thẩm không tính công sức cho vợ chồng ông T1, bà N là phù hợp.

[2.6]. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng thời điểm mở thừa kế, diện và hàng thừa kế, di sản thừa kế, trên cơ sở ý kiến, nguyện vọng của các đồng thừa kế đã chia di sản thừa kế theo pháp luật, không tính công sức cho ông T1, bà N là phù hợp quy định tại các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 616, 618, 620, 623, 649, 650, 651 và Điều 660 của Bộ luật Dân sự 2015.

[2.7]. Đối với yêu cầu hủy GCNQSD đất số DD673805 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 30/9/2021:

Do Di sản của cụ Đ để lại là 319m² (Gồm: 113m² đất ở + 206m² đất vườn), di sản của cụ H3 để lại là 242,5m² (Gồm 35m² đất ở + 207,5m² đất vườn); việc chia thừa kế phần di sản của cụ H3 để lại theo quy định của pháp luật và xác định quyền sử dụng đất cho ông T1, cho ông T đối với phần di sản của cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đồng nghĩa với việc cần thiết phải hủy GCNQSD đất số DD673805, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 30/9/2021 mang tên hộ ông Lê Hồng T1. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSD đất nêu trên là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[3]. Mặc dù có kháng cáo nhưng bà Trần Thị Hiền N, chị Lê Hồng N1 không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do đó, HĐXX không có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của các đương sự.

[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Thị Hiền N, chị Lê Hồng N1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, xét bà Trần Thị Hiền N là người cao tuổi, căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí cho bà N.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Hiền N, chị Lê Hồng N1; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
  2. Chị Lê Hồng N1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Xác nhận chị Lê Hồng N1 đã thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Trần Thị Hiền N.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, phòng HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 384/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 384/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông T yêu cầu Tòa án giải quyết: - Tuyên hủy GCNQSD đất số U498391, số vào sổ 00014QSDĐ/QĐ-UB do UBND thị xã V (nay là UBND thành phố V) cấp ngày 31/7/2003 mang tên hộ ông Lê Hồng T1. Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm, ông T xin rút yêu cầu hủy GCNQSD đất này vì GCNQSD đất này hiện nay không còn tồn tại. - Tuyên hủy GCNQSD đất số DD673805, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 30/9/2021 cho hộ ông Lê Hồng T1 được quyền sử dụng 551m2 đất (Trong đó: 148m2 đất ở + 403m2 đất vườn). - Đề nghị Tòa án xác nhận cho ông T được quyền sử dụng 201,9m2 đất (Gồm 70m2 đất ở + 131,9m2 đất vườn) là một phần di sản của cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế. - Đối với diện tích đất còn lại 359,6m2 (Gồm một phần di sản của cụ Đ để lại đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế và phần di sản của cụ H để lại) sau khi cắt 71,9m2 đất vườn làm lối đi chung, cắt 4,7m2 đất vườn làm rãnh thoát nước chung, phần còn lại là 283m2 (Gồm 78m2 đất ở + 205m2 đất vườn) để cho ông T1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger