Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 384/2024/DS-PT

Ngày: 17-7-2024

V/v tranh chấp chia thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vạng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng;

Ông Ngô Tấn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Được - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 17/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp chia thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 349/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ: Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1992; Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ: Luật sư Thái Quang T – Văn phòng L2; địa chỉ: Số B, N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn O (S2), sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
  4. Người bảo vệ quyền và lợi pháp của ông Nguyễn Văn O: Luật sư Ngô Thị Kim X – Văn phòng L3; địa chỉ: Số C - C, L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1945; địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
    2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1951
    3. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N: Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1992; Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    4. Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1958 (Khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi)
    5. Người đại diện theo pháp luật cho ông Nguyễn Văn Â: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968; Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Â: Luật sư Thái Quang T – Văn phòng L2; địa chỉ: Số B, N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    6. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1953 (chết ngày 14/02/2023); Địa chỉ: Số nhà E, Tổ C, Khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
    7. Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N1:

      1. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1957 (vợ ông N1);
      2. Anh Nguyễn Đức N2, sinh năm 1978 (con ông N1);
      3. Cùng địa chỉ: Số nhà E, Tổ C, Khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

      4. Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1984 (con ông N1); Địa chỉ: Số nhà B, đường N, Tổ A, Khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (con ông N1).

      Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị T1, chị Nguyễn Thị Mỹ D: Anh Nguyễn Đức N2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số nhà E, Tổ C, Khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

    8. Chị Phan Thị Diễm T2, sinh năm 1980 (Con bà L1);
    9. Anh Phan Ngọc T3, sinh năm 1983 (Con bà L1);
    10. Chị Phan Thị Ngọc T4, sinh năm 1985 (Con bà L1);
    11. Người đại diện theo ủy quyền của chị Phan Thị Diễm T2, chị Phan Thị Ngọc T4: Anh Phan Ngọc T3, sinh năm 1983. (Có mặt)

      Cùng địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    12. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968 (Vợ ông O) (Có mặt)
    13. Nguyễn Khả N3, sinh năm 1998 (Con ông O) (Có mặt)
    14. Nguyễn Khả M, sinh năm 2003 (Con ông O) (Vắng mặt)
    15. Cháu Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 2008 (Con ông O)
    16. Người đại điện theo pháp luật cho cháu Nguyễn Ngọc T5: Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968 (Là cha, mẹ đẻ của cháu T5).

      Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

      Người bảo vệ quyền và lợi pháp của bà Nguyễn Thị L: Luật sư Ngô Thị Kim X – Văn phòng L3; địa chỉ: Số C - C, L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    17. Anh Nguyễn Minh H1 sinh năm 1976 (Con bà H); (Vắng mặt)
    18. Cháu Nguyễn Minh C, sinh năm 2007 (Con anh H1);
    19. Người đại điện theo pháp luật cho cháu Nguyễn Minh C: Anh Nguyễn Minh H1, sinh năm 1976 (Cha đẻ của cháu C).

    20. Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1992 (Con bà Đ);
    21. Cháu Nguyễn Trần Thanh H2, sinh năm 2008 (Con bà Đ).
    22. Người đại diện theo pháp luật cho cháu Nguyễn Trần Thanh H2: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968.

    Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  6. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn O (S), bà Nguyễn Thị L – là bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn  có người đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Ngọc S trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn B (1913-1993) và bà Nguyễn Thị S1 (1924-2015). Ông B và bà S1 chết để lại phần đất 6.431,6m², bao gồm các thửa: 419, 420, 421, 422 thuộc tờ bản số 06, diện tích là 3.537,5m² và thửa 91, thửa 93, tờ bản đồ số 7 diện tích là 2.894,1m².

Ông B và bà S1 có 07 người con gồm: Nguyễn Thị H, sinh năm 1945; Nguyễn Thị N, sinh năm 1951; Nguyễn Văn N1, sinh năm 1953; Nguyễn Văn Â, sinh năm 1958 (Bị bệnh tâm thần từ nhỏ); Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960 (Chết 2007 có các con gồm: Phan Thị Diễm T2, Phan Ngọc T3, Phan Thị Ngọc T4); Nguyễn Văn O, sinh năm 1966; Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968.

Sau khi ông B chết, ông Nguyễn Văn O tự ý làm thủ tục đứng tên quyền sử dụng diện tích đất 6.431,6m², trong gia đình không ai biết kể cả bà S1. Đến năm 2006, các chị, em của bà về phần đất nêu trên cất nhà ở. Sau khi bà S1 chết, các anh, chị, em của bà yêu cầu chia thừa kế toàn bộ phần đất ông O đang canh tác. Lúc đầu ông O đồng ý nhưng khi làm thủ tục ký tên chuyển quyền sử dụng thì ông O không đồng ý.

Vì vậy, bà Đ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cho bà diện tích 926m² đất thuộc thửa 419, 420 tờ bản đồ số 7, trong phạm vi các mốc 1, 24, 30, 31, 34, 23, 13, 14, 33, 32, 15 về mốc 1. Trường hợp không đủ diện tích thì nhận giá trị. Trên đất tranh chấp tại vị trí nhà ông O đang sử dụng có căn nhà cấp 4 do vợ chồng ông O xây dựng nên thống nhất đây là tài sản của vợ chồng ông O và không tranh chấp đối với căn nhà.

Phần diện tích 289,4m² + 46,1m² tại các mốc 30, 29, 28, 27, 35, 34, 31 về 30 và là khu mộ, bà Đ yêu cầu được đứng tên chung. Đối với cây trồng trên khu mộ do ông O trồng nên thống nhất để ông O được hưởng huê lợi từ cây trồng, không yêu cầu Tòa án xem xét phần cây trồng trên phần đất khu mộ.

Đồng ý trả giá trị cây trồng cho ông O theo giá Hội đồng thẩm định giá.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bà Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Không đồng ý theo cầu của ông O và bà L. Xác định không tranh chấp chia tài sản chung hộ, chỉ tranh chấp chia thừa kế. Đối với phần cây trồng trên đất ông O đã bán Xoài lá cho anh H2 thì bà Đ không tranh chấp đối với số tiền này.

Thống nhất diện tích, vị trí, mốc giới theo sơ đồ đo đạc và giá do Hội đồng định giá đã định.

- Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N như sau: Về nguồn gốc đất và xác định hàng thừa kế của ông B, bà S1 như trình bày của bà Đ. Bà N có yêu cầu được chia thừa kế phần diện tích 110,2m² tại các mốc 25, 26, 27, 28, về mốc 25 và diện tích 518,9m² tại các mốc 34, 35, 22, 12, 13, 23 về mốc 34. Trên đất tranh chấp tại vị trí nhà ông O đang sử dụng có căn nhà cấp 4 do vợ chồng ông O xây dựng nên thống nhất đây là tài sản của vợ chồng ông O và không tranh chấp đối với căn nhà.

Phần diện tích 289,4m² + 46,1m² tại các mốc 30, 29, 28, 27, 35, 34, 31 về 30 và là khu mộ, bà N yêu cầu được đứng tên chung. Đối với cây trồng trên khu mộ do ông O trồng nên thống nhất để ông O được hưởng huê lợi từ cây trồng, không yêu cầu Tòa án xem xét phần cây trồng trên phần đất khu mộ.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bà N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Không đồng ý theo cầu của ông O và bà L. Xác định không tranh chấp chia tài sản chung hộ, chỉ tranh chấp chia thừa kế. Đối với phần cây trồng trên đất ông O đã bán Xoài lá cho anh H2 thì bà N không tranh chấp đối với số tiền này.

Thống nhất diện tích, vị trí, mốc giới theo sơ đồ đo đạc và giá do Hội đồng định giá đã định.

- Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn  như sau: Về nguồn gốc đất và xác định hàng thừa kế của ông B, bà S1 như trình bày của bà Đ. Ông  có yêu cầu được chia thừa kế phần diện tích 863m² tại các mốc 5, 37, 38, 10, 20, 19 về mốc 5. Trên đất tranh chấp tại vị trí nhà ông O đang sử dụng có căn nhà cấp 4 do vợ chồng ông O xây dựng nên thống nhất đây là tài sản của vợ chồng ông O và không tranh chấp đối với căn nhà.

Phần diện tích 289,4m² + 46,1m² tại các mốc 30, 29, 28, 27, 35, 34, 31 về 30 và là khu mộ, ông  yêu cầu được đứng tên chung. Đối với cây trồng trên khu mộ do ông O trồng nên thống nhất để ông O được hưởng huê lợi từ cây trồng, không yêu cầu Tòa án xem xét phần cây trồng trên phần đất khu mộ.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của giám hộ ông  giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Không đồng ý theo cầu của ông O và bà L. Xác định không tranh chấp chia tài sản chung hộ, chỉ tranh chấp chia thừa kế. Đối với phần cây trồng trên đất ông O đã bán Xoài lá cho anh H2 thì ông  không tranh chấp đối với số tiền này.

Thống nhất diện tích, vị trí, mốc giới theo sơ đồ đo đạc và giá do Hội đồng định giá đã định.

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn O trình bày: Năm 1989 cha mẹ ông O là ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị S1 cho ông phần đất diện tích 6.431,6m² gồm các thửa đất 419, 420, 421, 422 tọa lạc tại Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C. Ông O sống chung với cha mẹ từ nhỏ đến khi cha mẹ qua đời nên phần diện tích đất khi cha mẹ ông O lớn tuổi không còn khả năng lao động nên đã cho ông diện tích đất để canh tác nuôi dưỡng cha mẹ, lo cúng giỗ ông bà. Ông O trực tiếp sử dụng, tôn tạo, duy trì, phát triển diện tích đất, cây trồng trên đất đạt thành quả khu vườn trồng cây như ngày hôm nay.

Năm 1999, ông làm thủ tục kê khai diện tích đất, ông O được ủy ban nhân dân thị xã C (nay là thành phố C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích đất nêu trên. Thời điểm bà S1 còn sống kêu ông O đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông O sử dụng liên tục để lo thờ cúng giỗ ông bà và chăm sóc nuôi dưỡng bà S1. Về thủ tục cấp đất cho ông O hợp lệ, công khai, không ai tranh chấp, hàng năm ông đều có nghĩa vụ đóng thuế diện tích đất đầy đủ. Kể từ khi ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà D1 không phát sinh tranh chấp, các chị em ông hàng năm đến gia đình ông cúng giỗ đều biết không ai khiếu nại hay tranh chấp. Nay trong anh chị em nói cha mẹ không cho đất ông là không phù hợp.

Tại Bản án xét xử vào ngày 21/12/2021 của Tòa án thành phố C có xét xử việc chia thừa kế đối với di sản của ông B và chia giá trị đất cho hàng thừa

kế, ông thấy tình nghĩa anh em nên ông cũng không kháng cáo. Tuy nhiên, do vụ án vi phạm tố tụng nên hủy án để xét xử lại, trường hợp chia di sản thừa kế, ông yêu cầu được hưởng phần diện tích đất của bà S1 đã cho ông lúc còn sống và yêu cầu chia phần di sản của ông B. Hàng thừa kế gồm 07 anh em và bà S1 tổng cộng là 08 phần. Nhưng ông có công sức trong việc tôn tạo, duy trì, phát triển diện tích đất, cây trồng trên đất và có trách nhiệm thờ cúng ông bà, nuôi dưỡng mẹ nên ông yêu cầu chia thêm phần ông 02 phần, một phần công sức duy trì việc tôn tạo phát triển diện tích đất, 01 phần dùng vào việc thờ cúng ông bà, nuôi dưỡng mẹ già. Tổng cộng chia cho hàng thừa kế của ông B là 10 kỷ phần, trong đó phần ông hưởng 03 kỷ phần (01 kỷ phần của ông, 01 kỷ phần công sức duy trì tôn tạo phát triển diện tích đất, 01 kỷ phần nuôi dưỡng mẹ và thơ cúng ông bà, cha mẹ hàng năm) và 01 kỷ phần của mẹ ông đã giao cho ông lúc bà còn sống. Tổng cộng ông nhận 04 kỷ phần.

Đối với phần của bà H được thừa kế, trừ diện tích 118,9m² bà H đang sử dụng, phần còn lại bà H từ chối nhận và tự nguyện giao cho ông nên ông đồng ý nhận.

Ông được hưởng phần của bà S1 để lại cho ông, hiện ông đang đứng tên quyền sử dụng đất và yêu cầu được chia 04 kỷ phần trong phần di sản của ông B và phần di sản bà H giao cho ông sau khi trừ phần diện tích hiện nay sử dụng 118,9m², phần diện tích đất còn lại bà H từ chối chia di sản, ông đồng ý nhận phần di sản bà H từ chối.

Di sản của ông B ½ tổng diện tích đất là 3.215,8m² được chia 10 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 321,58m², ông 04 kỷ phần có diện tích là 1.286,32m². Cộng phần của bà H sau khi trừ 118,9m² còn lại 193,68m², ông đồng ý nhận, tổng cộng 1.480m².

Nay, ông O yêu cầu được chia thừa kế di sản của ông B gồm 04 kỷ phần và phần của bà H từ chối có diện tích đất tổng cộng 1.480m². Ông O không thống nhất việc yêu cầu chia di sản của bà Đ, bà N, ông N1, ông Â, những người thừa kế của bà L1 yêu cầu chia thừa kế di sản của bà S1. Chỉ đồng ý chia diện tích đất cho những người thừa kế hưởng di sản của ông B sử dụng diện tích đất hiện đang sử dụng, những phần diện tích đất còn lại chỉ đồng ý chia thừa kế bằng giá trị diện tích đất, nếu trường hợp Tòa án chia thừa kế

bằng diện tích đất vì có những cây trồng của ông O trên đất thì phải trả giá trị theo giá cơ quan nhà nước đã thẩm định tại Tòa án.

Tại phiên tòa ông O thống nhất phần đất diện tích 289,4m² + 46,1m² tại các mốc 30, 29, 28, 27, 35, 34, 31 về 30 và là khu mộ nên thống nhất là khu mộ chung do các anh chị em cùng đứng tên. Đối với cây trồng trên khu mộ do ông O trồng nên thống nhất để ông O được hưởng huê lợi từ cây trồng, không yêu cầu Tòa án xem xét phần cây trồng trên phần đất khu mộ.

Ông O thống nhất diện tích, vị trí, mốc giới theo sơ đồ đo đạc và giá do Hội đồng định giá đã định. Ông O không yêu cầu đo đạc lại diện tích đất tranh chấp. Ông O xác định không tranh chấp chia tài sản chung cấp cho hộ.

Ngoài ra, cây trồng trên đất ông O xác định đã bán Xoài lá cho anh Nguyễn Thanh H2 là cháu vợ của ông O, theo hợp đồng bán Xoài lá đến năm 2025, giá bán là 115.000.000 đồng. Ông O có ý kiến sẽ tự thỏa thuận với anh H2 về việc bán X1 lá khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nên không yêu cầu xem xét trong vụ kiện này.

- Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L như sau: Bà L chung sống với ông O năm 1994 nhưng không đăng ký kết hôn, cùng chung sống với ông O tại Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C cho đến nay.

Khi bà về sống chung gia đình bên chồng thì được cha mẹ chồng là ông B, bà S1 và chồng là ông O đang trực tiếp canh tác sử dụng phần đất 6.431,6m². Do cha mẹ chồng già yếu, không còn khả năng lao động đã cho ông O diện tích đất này trước năm 1989.

Vào thời điểm đó, diện tích đất nói trên là đất chưa được cải tạo, chỉ vườn tạp, trồng chuối xung quanh nhà, phía sau còn đế, sậy. Vợ chồng bà cùng nhau cải tạo đất, lên liếp và mua cây Xoài về trồng trên đất. Từ năm 1994 đến năm 1996 thì đất đã được thành khoảnh, được lên liếp, bồi đắp phân, đất cho cây để tốt cho việc trồng trọt. Trong thời gian 03 năm này, bản thân bà cùng trồng bỏ công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì, phát triển diện tích đất, cây trồng trên đất đạt thành quả khu vườn trồng cây như ngày hôm nay. Sau năm 2000 nước lụt, bà cùng chồng phải trồng bổ sung những cây bị chết và chăm sóc cho đến ngày hôm nay. Trường hợp Tòa án xem xét chia thừa kế thì phải tính đến công sức của bà trong việc tôn tạo đất và cây trồng cho đến ngày hôm nay.

Nay, bà L yêu cầu Tòa án xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất của bà, trích 30% giá trị diện tích đất do ông O có yêu cầu chia thừa kế phần di sản thừa kế của ông B nên diện tích đất của cha mẹ là 6.431,6m², chia 2 nên phần di sản của ông B là 3.215,8m² trừ 04 kỷ phần và phần từ chối di sản của bà H, ông O được hưởng 1.480m².

Phần còn lại được chia cho các hàng thừa kế còn lại: 3.215,8m² - 1.480m² = 1.735,8m².

Trừ phần diện tích đất của bà H được sử dụng: 1.735,8m² – 118,9m² = 1.616,9m².

Tạm tính giá trị đất 200.000 đồng/m² x 1.616,9m² = 323.380.000 đồng.

Bà L yêu cầu trích 30% giá trị đất/1.616,9m² là phần chia thừa kế cho những hàng thừa kế còn lại (ngoài bà H) là 97.014.000 đồng.

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H là ông Nguyễn Văn O trình bày: Bà H thống nhất lời trình bày của bà Đ về cha, mẹ, anh, chị, em và nguồn gốc đất nhưng bà H không đồng ý việc bà Đ cho rằng ông O tự ý kê khai và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quá trình sống chung, ông O là con trai út ở chung với cha mẹ và cùng canh tác với cha mẹ. Năm 1989, cụ B và cụ S1 cho ông O phần đất trên để trực tiếp quản lý, sử dụng đến nay.

Năm 1993, cụ B chết, cụ S1 yêu cầu ông O đi làm thủ tục kê khai, đăng ký đối với diện tích đất trên, được Ủy ban nhân xã T Tây xác nhận. Năm 1989, ông O được Ủy ban nhân dân thị xã C (nay là thành phố C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất trên.

Phần đất trên là của cha mẹ cho ông O nên trước đây bà H đã từ chối nhận di sản, ông O có thương bà H thì cho bà H diện tích bao nhiêu bà H nhận bấy nhiêu. Nay các anh em có tranh chấp yêu cầu chia thừa kế nên bà H thay đổi ý kiến. Trường hợp có căn cứ xác định toàn bộ diện tích đất trên là di sản của cha mẹ để lại chưa chia thì bà H có yêu cầu như sau:

Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Nguyễn Văn O có trách nhiệm chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại theo pháp luật, phần đất bà H đang cất nhà ở diện tích 118,9m² trong phạm vi các mốc 24, 30, 29, 28, 25, 2 và về mốc 24 theo sơ

đồ đo đạc của Trung tâm K, đất thuộc một phần thửa đất 419, 420, 421, 422 tờ bản đồ số 6 và thửa số 91, 93 tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Phần diện tích đất còn thừa bà giao cho ông O.

Trên đất tranh chấp tại vị trí nhà ông O đang sử dụng có căn nhà cấp 4 do vợ chồng ông O xây dựng nên thống nhất đây là tài sản của vợ chồng ông O và không tranh chấp đối với căn nhà.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bà H có ông O trình bày: bà H yêu cầu được chia thừa kế phần đất diện tích 118,9m² trong phạm vi các mốc 24, 2, 25, 28, 29, 30 và về mốc 24 thuộc một phần các thửa 419, 420, 421, 422 tờ bản đồ số 6 và thửa số 91, 93 tờ bản đồ số 7. Phần còn thừa mà bà H được hưởng chia theo pháp luật thì bà H thống nhất giao lại cho ông O.

Phần diện tích 289,4m² + 46,1m² tại các mốc 30, 29, 28, 27, 35, 34, 31 về 30 và là khu mộ, ông  yêu cầu được đứng tên chung. Đối với cây trồng trên khu mộ do ông O trồng nên thống nhất để ông O được hưởng huê lợi từ cây trồng, không yêu cầu Tòa án xem xét phần cây trồng trên phần đất khu mộ.

Xác định không tranh chấp chia tài sản chung hộ, chỉ tranh chấp chia thừa kế. Đối với phần cây trồng trên đất ông O đã bán Xoài lá cho anh H2 thì bà H không tranh chấp đối với số tiền này.

Thống nhất diện tích, vị trí, mốc giới theo sơ đồ đo đạc và giá do Hội đồng định giá đã định. Trên phần đất bà H yêu cầu có 02 ngôi mộ đá, bà H yêu cầu giữ nguyên hiện trạng.

- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Nguyễn Đức N2 đại diện theo ủy quyền của bà T1, chị D trình bày: Nguồn gốc đất thống nhất lời trình bày của nguyên đơn. Trước năm 1991 ông B cầm cố phần đất này ông Tư N4. Ông N1 lúc đó làm ở Công ty L4 phải nghỉ việc để lấy tiền bảo hiểm về chuộc lại đất cho ông B. Số tiền chuộc là 11.000.000 đồng, chuộc đất vào năm 1991. Khi ông B và bà S1 chết không để lại di chúc nên năm 2018 ông O có thống nhất tách cho ông N1 02 công đất, khi ông N1 làm thủ tục tách thửa thì ông O đổi ý và có tranh chấp.

Khi Tòa án thụ lý giải quyết và ông N1 còn sống có yêu cầu diện tích 1.236,8m² theo sơ đồ đo đạc. Nay, ông N1 chết, anh là hàng thừa kế của ông N1 và cũng là đại diện theo ủy quyền của bà T1, chị D thống nhất giao toàn bộ

phần đất ông N1 được hưởng cho bà T1 được đứng tên. Bà T1 yêu cầu hưởng phần ông N1 được thừa kế là 1.236,8m² theo sơ đồ đo đạc tại vị trí các mốc 6, 7, 8,9,38, 37 về mốc 6. Anh N2, chị D thống nhất để bà T1 được nhận thừa kế toàn bộ diện tích đất mà ông N1 được hưởng từ ông B, bà S1.

Ngoài ra, anh N2 thống nhất trên diện tích đất bà T1 yêu cầu có 15 cây Xoài Cát C1 do ông O trồng trên 05 năm tuổi. Đối với cây trồng trên đất do ông O trồng thì bà T1 sẽ trả giá trị cây trồng cho ông O theo giá Hội đồng thẩm định giá đã định.

Phần diện tích 289,4m² + 46,1m² tại các mốc 30, 29, 28, 27, 35, 34, 31 về 30 và là khu mộ, bà T1 yêu cầu được đứng tên chung. Đối với cây trồng trên khu mộ do ông O trồng nên thống nhất để ông O được hưởng huê lợi từ cây trồng, không yêu cầu Tòa án xem xét phần cây trồng trên phần đất khu mộ.

Trên đất tranh chấp tại vị trí nhà ông O đang sử dụng có căn nhà cấp 4 do vợ chồng ông O xây dựng nên thống nhất đây là tài sản của vợ chồng ông O và không tranh chấp đối với căn nhà.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bà Thu G nguyên yêu cầu khởi kiện. Không đồng ý theo cầu của ông O và bà L. Xác định không tranh chấp chia tài sản chung hộ, chỉ tranh chấp chia thừa kế. Đối với phần cây trồng trên đất ông O đã bán Xoài lá cho anh H2 thì bà T1 không tranh chấp đối với số tiền này.

Thống nhất diện tích, vị trí, mốc giới theo sơ đồ đo đạc và giá do Hội đồng định giá đã định.

- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh T3 là đại diện theo ủy quyền của chị T2, chị T4 trình bày: Anh T3, chị T2, chị T4 thống nhất lời trình bày của bà Đ về cha, mẹ, anh, chị, em ruột, nguồn gốc đất và quá trình sử dụng. Nay anh T3 yêu cầu được nhận phần thừa kế mà bà Nguyễn Thị L1 được hưởng do nhận thừa kế từ ông bà, ngoại để lại. Theo đó, anh T3 yêu cầu được nhận 01 phần diện tích 738,6m², thuộc một phần thửa 91 tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Chị T2, chị T4 thống nhất để anh T3 được nhận thừa kế toàn bộ diện tích đất mà bà L1 được hưởng từ ông B, bà S1.

Trên đất tranh chấp tại vị trí nhà ông O đang sử dụng có căn nhà cấp 4 do vợ chồng ông O xây dựng nên thống nhất đây là tài sản của vợ chồng ông O và không tranh chấp đối với căn nhà.

Anh T3 yêu cầu được chia thừa kế phần đất diện tích 1.000m², diện tích đo đạc thực tế 695,2m² trong phạm vi các mốc 26, 4, 18, 21, 11, 12, 22, 18 và về 4. Trường hợp không đủ diện tích thì nhận giá trị phần còn thiếu.

Phần diện tích 289,4m² + 46,1m² tại các mốc 30, 29, 28, 27, 35, 34, 31 về 30 và là khu mộ, anh T3 yêu cầu được đứng tên chung. Đối với cây trồng trên khu mộ do ông O trồng nên thống nhất để ông O được hưởng huê lợi từ cây trồng, không yêu cầu Tòa án xem xét phần cây trồng trên phần đất khu mộ.

Tại phiên tòa luật sư bảo vệ cho anh T3 trình bày anh T3 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Không đồng ý theo cầu của ông O và bà L. Xác định không tranh chấp chia tài sản chung hộ, chỉ tranh chấp chia thừa kế. Đối với phần cây trồng trên đất ông O đã bán Xoài lá cho anh H2 thì anh T3 không tranh chấp đối với số tiền này. Thống nhất diện tích, vị trí, mốc giới theo sơ đồ đo đạc và giá do Hội đồng định giá đã định.

- Anh S; Bà Đ đại diện theo pháp luật của Nguyễn Trần Thanh H2: Thống nhất lời trình bày của bà Đ (có anh S đại diện theo ủy quyền).

- Bà L và ông O là đại diện theo pháp luật của T5: Thống nhất lời trình bày của ông O.

- Nguyễn Khả M và Nguyễn Khả N3 có đơn xin xét xử vắng mặt: Không có yêu cầu tranh chấp.

Tại Bản án sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N, bà Trần Thị T1 (người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N1), ông Nguyễn Văn  (có bà Nguyễn Thị Đ đại diện giám hộ), anh Phan Ngọc T3 (con bà L1), bà Nguyễn Thị Đ mỗi người được chia 770,65m², đất tọa lạc xã T, thành phố C (gồm các thửa: 419, 420, 421, 422 thuộc tờ bản số 06 và thửa 91, thửa 93, tờ bản đồ số 7).

Phần bà Nguyễn Thị H nhận 118,9m², phần còn lại 651,75m² bà Nguyễn Thị H thống nhất giao cho ông Nguyễn Văn O.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn O. Ông Nguyễn Văn O được hưởng diện tích 2.193,05m² (trong đó được chia 770.65m² x 2 kỷ phần = 1.541,3m² + 651,75m² là phần đất bà H giao ông O).

Các đương sự được nhận diện tích đất cụ thể như sau:

  • Bà Nguyễn Thị Đ được sử dụng diện tích 926m² và cây trồng trên đất, trong phạm vi các mốc 1, 24, 30, 31, 34, 23, 13, 14, 33, 15 về mốc 1 và có trách nhiệm trả giá trị đất cho ông Nguyễn Văn O số tiền 22.137.375 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị N được sử dụng diện tích 637,6m² và cây trồng trên đất, trong phạm vi các mốc 25, 3, 26, 27, 28, 29 về mốc 25 và mốc 35, 22, 12, 13, 23, 34 về mốc 35. Bà Nguyễn Thị N được nhận giá trị đất từ bà Trần Thị T1 số tiền 18.956.775 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn  được sử dụng diện tích 863m² và cây trồng trên đất, trong phạm vi các mốc 5, 37, 38, 10, 20, 19 về mốc 5. Ông Nguyễn Văn  có trách nhiệm trả giá trị đất cho ông Nguyễn Văn O số tiền 13.159.875 đồng.
  • Anh Phan Ngọc T3 được sử dụng diện tích 695,2m² và cây trồng trên đất, trong phạm vi các mốc 26, 4, 18, 21, 11, 12, 22, 35, 27 về mốc 26. Bà Trần Thị T1 có trách nhiệm trả giá trị đất cho anh Phan Ngọc T3 là 10.751.625 đồng.
  • Bà Trần Thị T1 được sử dụng diện tích 1.236m² và cây trồng trên đất, trong phạm vi các mốc 37, 6, 8, 9, 38 về mốc 37, bà Trần Thị T1 có trách nhiệm trả giá trị đất cho ông Nguyễn Văn O là 36.715.125 đồng và ông Phan Ngọc T3 là 10.751.625 đồng; bà Nguyễn Thị N số tiền 18.956.775 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị H được sử dụng diện tích 118,9m², trong phạm vi các mốc 24, 2, 25, 28, 29, 30 về mốc 29.
  • Ông Nguyễn Văn O được sử dụng diện tích 1.687,7m² và cây trồng trên đất, trong phạm vi các mốc 4, 36, 5, 10, 39, 11, 21, 18 về mốc 4. Bà Trần Thị T1 có trách nhiệm trả giá trị đất cho ông Nguyễn Văn O là 36.715.125 đồng; Ông Nguyễn Văn  có trách nhiệm trả giá trị đất cho ông Nguyễn Văn O là 13.159.875 đồng. Bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm trả giá trị đất cho ông Nguyễn Văn O là 22.137.375 đồng

Ông Nguyễn Văn O được nhận tổng giá trị cây trồng là 412.570.000 đồng, cụ thể như sau:

  • Bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm trả giá trị cây trồng cho ông Nguyễn Văn O là 157.000.000 đồng.
  • Bà Trần Thị T1 có trách nhiệm trả giá trị cây trồng cho ông Nguyễn Văn O là 60.000.000 đồng.
  • Ông Phan Ngọc T3 có trách nhiệm trả giá trị cây trồng cho ông Nguyễn Văn O là 67.080.000 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn  có trách nhiệm trả giá trị cây trồng cho ông Nguyễn Văn O là 61.490.000 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm trả giá trị cây trồng cho ông Nguyễn Văn O là 67.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, về việc yêu cầu trích 30% giá trị đất/1.616,9m² là phần chia thừa kế cho những hàng thừa kế còn lại (ngoài bà H) là 97.014.000 đồng.

Ông Phan Ngọc T3 có nghĩa vụ giao tiền hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn O số tiền 10.751.621₫.

Bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ giao tiền hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn O số tiền là 10.000.000đ.

Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ giao tiền hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn O số tiền là 10.000.000₫.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự: Xác định diện tích 335,5m² làm khu mộ chung.

Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N, bà Trần Thị T1 (người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N1), ông Nguyễn Văn  (có bà Nguyễn Thị Đ đại diện giám hộ), ông Phan Ngọc T3 (con bà Nguyễn Thị L1), ông Nguyễn Văn O, bà Nguyễn Thị Đ được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu mộ chung diện tích 335,5m², trong phạm vi các mốc 30, 29, 28, 27. 35, 34, 31 về mốc 30 thuộc một phần các thửa 419, 420, 421, 422 tờ bản đồ số 6.

Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh và đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án và phải chịu các khoản thu theo quy định pháp luật (nếu có). Về vị trí thửa đất, loại đất do cơ quan có thẩm quyền xác định trên thực tế theo quản lý về đất đai khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định.

(Theo các biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/11/2020, ngày 16/4/2021, ngày 09/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh; Sơ đồ đo đạc ngày 26/02/2021 của Trung tâm K).

  1. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là 14.629.000 đồng, bà Đ tạm ứng 13.629.000 đồng, ông O tạm ứng 1.000.000 đồng và chi xong, bà H, bà N, bà T1 (thừa kế tố tụng ông N1), ông Â, bà L1 (đã chết, có con là ông T3), bà Đ và ông O mỗi người phải chịu số tiền 2.089.857 đồng. Các đương sự còn lại có trách nhiệm trả cho bà Đ.
  2. Về án phí:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    2. Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N, bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Văn  được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

      Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 8.840.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005181 ngày 24/12/2018 và 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005383 ngày 10/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Bà Nguyễn Thị Đ còn phải nộp 6.040.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.

      Ông Phan Ngọc T3 phải chịu 8.844.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.693.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001536 ngày 02/3/2020 và 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005384 ngày 10/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Ông Phan Ngọc T3 còn phải nộp 4.851.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.

      Ông Nguyễn Văn O phải chịu 10.981.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.272.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000059 ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Ông Nguyễn Văn O còn phải nộp 5.709.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.

      Bà Nguyễn Thị L phải chịu 4.850.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.425.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000058 ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh (Do ông Nguyễn Văn O nộp thay). Bà Nguyễn Thị L còn phải nộp 2.425.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Án phí dân sự phúc thẩm:
    4. Ông Nguyễn Văn O, bà Nguyễn Thị L không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông O, bà L đã nộp mỗi người 300.000đ theo biên lai thu số 0000355 và số 0000356 cùng ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

      Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ĐT;
  • - TAND thành phố Cao Lãnh;
  • - Chi cục THADS thành phố Cao Lãnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Vạng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 384/2024/DS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 384/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Đ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cho bà diện tích 926m2 đất thuộc thửa 419, 420 tờ bản đồ số 7, trong phạm vi các mốc 1, 24, 30, 31, 34, 23, 13, 14, 33, 32, 15 về mốc 1. Phần diện tích 289,4m2 + 46,1m2 tại các mốc 30, 29, 28, 27, 35, 34, 31 về 30 và là khu mộ, bà Đ yêu cầu được đứng tên chung...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger