TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 384/2024/DS-PT Ngày 19-8-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.
Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân;
Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Khánh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 214/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 76/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 286/2024/QĐPT-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ G, khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ A, khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
Ông Phan Văn H2, sinh năm 1970; địa chỉ cư trú: Tổ A, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thúy H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19-10-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do quen biết nên vào ngày 07/6/2022 bà H1, ông H2 có vay của bà H số tiền 1.000.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, đến ngày 11/6/2022 bà H1 đã trả cho bà H được số tiền 500.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 500.000.000 đồng đến nay chưa trả nên bà H khởi kiện. Lãi suất thỏa thuận khi cho vay là 3%/tháng, mục đích vay tiền để đáo hạn Ngân hàng, hẹn khi nào đáo hạn Ngân hàng xong sẽ trả. Theo bà H ngày đáo hạn là ngày 11/6/2022. Khi vay không thế chấp tài sản. Ông H2 có biết việc bà H1 vay tiền của bà H vì ông H2, bà H1 và bà H là bạn bè làm ăn chung với nhau. Bà H nhắn tin đòi tiền vào ngày 15/9/2022 (tin nhắn đòi tiền thì hiện nay bà H không có để nộp cho Tòa án). Căn cứ bà H yêu cầu tính lãi từ ngày 15/9/2022 vì sau khi vay tiền bà H1 đã trả tiền lãi cho bà H được 02 lần, từ tháng 9 trở đi thì bà H1 không trả tiền lãi nên bà H mới yêu cầu trả tiền lãi quá hạn từ ngày 15/9/2022. Khi vay không có thỏa thuận lãi suất quá hạn.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đỗ Thị H1 cùng ông H2 có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền vay là 500.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1.66%/tháng kể từ ngày 15/9/2022 cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, tạm tính là 99.600.000 đồng, ngoài ra, bà H không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Đỗ Thị H1 trình bày:
Bà H1 thừa nhận vào ngày 07/6/2022 bà H1 có vay của bà H số tiền 1.000.000.000 đồng. Vào ngày 10/6/2022 bà H1 đã trả được số tiền 500.000.000 đồng. Vào ngày 11/7/2022 bà H1 trả được 300.000.000 đồng tiền gốc (trả tiền mặt), và chuyển khoản 45.000.000 đồng tiền lãi. Trong ngày 11/7/2022 bà H1 chuyển khoản cho bà H 75.000.000 đồng (1 lần 50.000.000 đồng và 1 lần 25.000.000 đồng), trong đó 45.000.000 đồng trả lãi cho khoản 1.000.000.000 đồng vay ngày 07/6/2022, còn lại 30.000.000 đòng trả cho khoản vay ngày 05/4/2022 (vay 800.000.000 đồng đã trả 400.000.000 đồng còn nợ 400.000.000 đồng). Ngày 12/7/2022 bà H1 trả cho bà H số tiền 200.000.000 đồng và 3.600.000 đồng tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản. Như vậy, đối với khoản vay ngày 07/6/2022 thì bà H1 đã trả đủ tiền cho bà H.
Việc bà H trình bày số tiền 200.000.000 đồng trả cho khoản vay ngày 04/4/2022 thì vào ngày 05/5/2022 bà H1 đã chuyển khoản để trả cho bà H số tiền này.
Trong ngày 05/5/2022 bà H1 chuyển khoản cho bà H số tiền 600.000.000 đồng, trong đó 200.000.000 đồng trả cho khoản vay ngày 04/4/2022, còn lại 400.000.000 đồng trả cho khoản vay ngày 05/4/2022 (vay 800.000.000 đồng).
Nay bà H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, bà H1 không đồng ý trả tiền như yêu cầu khởi kiện của bà H, vì bà H1 đã trả đủ tiền cho bà H. Bà H1 không có chứng cứ gì khác để cung cấp cho Tòa án và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ gì khác, ngoài ra, bà H1 không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Phan Văn H2 trình bày:
Việc vay tiền giữa bà H1 và bà H thì ông H2 không biết, không liên quan đến ông H2 nên ông H2 không đồng ý trả tiền như yêu cầu khởi kiện của bà H. Do bận công việc nên ông H2 xin được giải quyết, xét xử vắng mặt trong vụ án này. Bà H1 thường ngày chỉ làm nghề nội trợ, việc bà H1 làm nghề cho vay tiền thì ông H2 không biết, việc chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình do ông H2 lo liệu. Lương của ông H2 mỗi tháng trung bình khoảng hơn 13.000.000 đồng. Ông H2 đã nghĩ việc tại Chi cục Thi hành án dân sự từ ngày 01/01/2024. Hiện nay ông H2 và bà H1 đứng tên khoảng 1ha đất rẫy tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và đang thế chấp cho Ngân hàng A, Tây Ninh và đứng tên 01 phần đất nhà ở khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, hiện nay đang thế chấp cho Ngân hàng A1. Nguồn gốc các phần đất trên do cha, mẹ ông H2 tặng cho. Ngoài ra, ông H2 và bà H1 không còn đứng tên chung phần đất nào khác. Ngoài ra, ông H2 không trình bày gì thêm.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số: 76/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, đã xử:
Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thúy H đối với bà Đỗ Thị H1 và ông Phan Văn H2 về việc tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
* Nội dung kháng cáo:
Ngày 03-6-2024, Nguyên đơn bà Phạm Thị Thúy H có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm do thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chưa tiến hành đối chất
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Nguyên đơn bà H thay đổi kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận khởi kiện của bà buộc bà H1 ông H2 trả số tiền vay là 500.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: Bà H1 cho rằng có trả cho bà H 300.000.000 đồng, phương thức thanh toán bằng tiền mặt, chỉ nhớ trả tiền tại quán cà phê, không nhớ địa điểm cụ thể nhưng không cung cấp được chứng cứ trực tiếp về việc trả 300.000.000 đồng. Xét chứng cứ gián tiếp bà H1 cho rằng đã trả 300.000.000 đồng là giấy tính tiền bà H chụp gửi zalo cho bà H1 thấy rằng: nội dung tin nhắn không xác định bà H1 đã trả 300.000.000 đồng; bà H1, ba H có giao dịch vay mượn tiền nhiều khoản, giấy tính tiền cũng không là giấy chốt nợ các khoản vay. Do đó, lời trình bày của bà H1 không có cơ sở chấp nhận.
- Bà H1 khai đã trả 200.000.000 đồng thông qua chuyển khoản ngày 12/7/2022 số tiền 203.600.000 đồng (gốc 200.000.000 đồng, lãi 3.600.000 đồng) nhận thấy: tại Bản tự khai ngày 12/4/2023 bà H1 khai số tiền chuyển khoản nói trên vào tài khoản bà H để trả cho khoản vay 04/4/2022; sau đó bà H1 khai số tiền này trả cho khoản vay 1.000.000.000 đồng ngày 07/6/2022 là mâu thuẫn, trước sau không thống nhất. Mặt khác, nếu căn cứ vào mức lãi suất các bên khai khi cho vay 1.000.000.000 đồng thi số tiền lãi 3.600.000 đồng cũng không phù hợp.
Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: chấp nhận kháng cáo của bà H, sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bà H1, ông H2 trả cho bà H tiền vay gốc 500.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, của luật sư, của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03-6-2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H3 kháng cáo, qua xem xét đơn kháng cáo phù hợp với trình tự, thủ tục quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét về quan hệ pháp luật giải quyết, thấy rằng: Bà H3 khởi kiện yêu cầu bà H1, ông H2 trả số tiền vay 500.000.000 đồng và tiền lãi. Phía bà H1 cho rằng số tiền trên đã trả xong, ông H2 cho rằng không biết việc vay tiền. Các bên có tranh chấp. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bà H3, thấy rằng:
[3.1] Bà H3 và bà H1 là bạn bè quen biết, có giao dịch nhiều khoản tiền vay từ năm 2021, đến năm 2023 chốt nợ, bà H1 còn 5 khoản nợ cụ thể: Ngày 05-4-2022 bà H1 vay 800.000.000 đồng, vay tiền mặt, đến ngày 05-5-2022 trả được 400.000.000 đồng. Còn nợ 400.000.000 đồng.
Ngày 15-6-2022 vay 300.000.000 đồng, nhận chuyển khoản, Chưa trả.
Ngày 18-7-2022 vay 150.000.000 đồng, nhận chuyển khoản. Chưa trả.
Ngày 12-12-2022 vay 1.300.000.000 đồng, nhận chuyển khoản. Chưa trả.
Ngày 14-12-2022 vay 200.000.000 đồng, nhận chuyển khoản. Chưa trả.
Tổng cộng còn nợ là 2.350.000.000 đồng, bà H3 đã khởi kiện bằng vụ kiện dân sự được Tòa án nhân huyện T và Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, kết quả: Buộc vợ chồng bà H1 ông H2 có nghĩa vụ trả cho bà H3 1.895.120.000 đồng tiền gốc và lãi 287.325.000 đồng, bản án phúc thẩm đang có hiệu lực thi hành. Bà H3 xác định số tiền 500.000.000 đồng khởi kiện trong vụ án này không liên quan đến 5 khoản tiền trên.
[3.2] Qua đối chiếu Bản án phúc thẩm dân sự số 156/2024/DS-PT ngày 29-3-2024 của Tòa án tỉnh Tây Ninh, tại phần nhận định của bản án có nội: Trong 5 khoản nợ khởi kiện có khoản nợ ngày 15-6-2022 số tiền vay là 300.000.000 đồng; và có chứng cứ ngày 04-7-2022 bị đơn chuyển khoản cho nguyên đơn 300.000.000 đồng; bị đơn cho rằng là trả cho khoản vay ngày 15-6-2022, nguyên đơn cho rằng trả của khoản vay 1.000.000.000 đồng ngày 07-6-2022 chưa khởi kiện nhưng cấp phúc thẩm ghi nhận việc trả của khoản vay ngày 15-6-2022 và tách khoản vay ngày 07-6-2022 ra giải quyết bằng vụ kiện khác. Phía nguyên đơn cho rằng tại thời điểm khởi kiện lần đầu vào ngày 29-3-2023 bà chưa thu thập được phiếu chuyển khoản cho vay của ngày 07-6-2022 tại Ngân hàng nên chưa khởi kiện, sau đó đã thu thập được nên tiếp tục khởi kiện đồng thời bản án phúc thẩm cũng tách khoản vay trên để kiện bằng vụ kiện khác. Lời trình bày của nguyên đơn về việc khởi kiện là có căn cứ.
[4] Xét lời trình bày của các bên và chứng cứ do các bên cung cấp, thấy rằng:
[4.1] Nguyên đơn cung cấp 3 phiếu chuyển tiền (400.000.000 đồng, 400.000.000 đồng và 200.000.000 đồng), có căn cứ xác định, giao dịch 1.000.000.000 đồng là có thật. Nguyên đơn thừa nhận đã trả 500.000.000 đồng, chỉ khởi kiện 500.000.000 đồng.
[4.2] Bị đơn cung cấp chứng cứ, giấy chốt nợ của nguyên đơn viết chụp gửi zalo cho bị đơn và tin nhắn của bị đơn chuyển trả 200.000.000 đồng và lãi xuất vào ngày 12-7-2022. Tài liệu này phô tô và được nguyên đơn xác nhận là chữ viết của nguyên đơn, nên có giá trị pháp lý để xem xet, đánh giá chứng cứ.
[4.3] Thấy rằng; ngày 07-7-2022 nguyên đơn có viết giấy tay xác nhận các khoản nợ, cụ thể::
“ TC
6/5 = 400 tr (2,5)
7-6 còn 200 tr (3)
15/6 = 300 tr (2,5)
TC 900tr”.
Như vậy; đối với số tiền 500.000.000 đồng còn lại trong số tiền vay 1.000.000.000 đồng, bà H1 cho rằng đã trả 2 lần, lần đầu 300.000.000đồng, nên đến ngày 07-7-2022 chốt lại còn nợ 200.000.000 đồng, xem xét nội dung giấy chốt nợ ngày 07-7-2022 ở trên thể hiện: Bà H1 có trả 300.000.000 đồng chuyển khoản là trả cho số tiền vay ngày 15-6-2022, tại phiên tòa phúc thẩm bà H1 trình bày không thống nhất, ban đầu cho rằng trả vào ngày 04-7-2022 chuyển khoản nhưng số tiền này đã được trừ vào số nợ 300.000.000 đồng vay ngày 15-6-2022 theo bản án phúc thẩm dân sự. Tiếp theo bà H1 trình bày số tiền 300.000.000 đồng trả của khoản vay 01 tỷ vào ngày 07-6-2022 là trả tiền mặt, gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi cho bà H3 do bà H3 yêu cầu trả tiền mặt, trả tại quán cà phê không nhớ địa điểm và ngày tháng, sau khi trả xong có nhắn tin, nhưng không cung cấp được chứng cứ trả, phía bà H3 phủ nhận việc trả tiền mặt. Như vậy, bà H1 không cung cấp được chứng cứ trả 300.000.000 đồng đối với khoản vay 1.000.000.000 đồng ngày 07-6-2022 nên phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà H3.
[4.5] Đối với số tiền còn lại 200.000.000 đồng, bà H1 cho rằng trả vào ngày 12-7-2022 với tiền gốc 200.000.000 đồng, lãi 3% = 3.600.000 đồng và đã chuyển khoản đủ 203.600.000 đồng, có cung cấp chứng cứ đã chuyển khoản cho bà H3, thể hiện: “E trả 200 triệu của ngày 7/7 đến 12/7 là 6 ngày 3 trịu 6 nha chi e trả đũ tiền cho chị”. Nhưng theo bản tự khai 12-4-2023 của bà H1 (bị đơn) thể hiện: “Ngày 12/7/2022, tôi trả số tiền gốc 200.000.000 đồng mà tôi vay ngày 04/4/2022 và tôi trả lãi của 200.000.000 đồng tính từ ngày 07/7/2022 đến 12/7/2022 là 6 ngày x 0,3% /ngày = 3.600.000 đồng. Tôi trả bằng hình thức chuyển khoản”. Như vậy, có cơ sở xác đình số tiền 200.000.000 đồng trong giấy chốt nợ ngày 07-7-2022 là trả của khoản vay ngày 04-4-2022, không liên quan đến số tiền khởi kiện trong vụ án này.
[4.6] mặt khác, tại trang 5 của bản tự khai trên của bà H1 còn thể hiện: “Ngày 7/6/2022 Tôi vay của chị H3 tỷ đồng... ngày 10/6/2022 tôi trả bằng hình thức chuyển khoản tiền gốc là 500 triệu, tiền lãi tính từ ngày 07/6/2022 đến ngày 10/6/2022 của 500 triệu là 4 ngày x 0,3% = 6.000.000 đồng... tôi còn nợ chị H3 tiền gốc là 500 triệu đồng”. Như vậy, không có căn cứ chứng minh bà H1 đã trả 200.000.000 đồng còn lại cho bà H3. Từ đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H3.
[5] Bà H1 vay tiền trong thời kỳ hôn nhân, hiện vợ chồng vẫn sống chung, giao dịch nhiều khoản tiền với số tiền lớn, có sử dụng vào việc sinh hoạt của gia đình, có căn cứ Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình, buộc ông H2 cùng có nghĩa vụ trả nợ với bà H1.
[6] Về án phí:
[6.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị H1 và ông Phan Văn H2 phải chịu 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Phạm Thị Thúy H 13.992.000 (mười ba triệu chín trăm chín mươi hai nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005598 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2, Điều 29 Nghị quyết 326/UBTVQH14
Bà Phạm Thị Thúy H không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà H 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0006252 ngày 03-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị Thúy H
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
1. Căn cứ các Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 147; Điều 148; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thúy H đối với bà Đỗ Thị H1, ông Phan Văn H2 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bà Đỗ Thị H1 và ông Phan Văn H2 có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Thúy H số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu). Ghi nhận không yêu cầu tính lãi.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị H1 và ông Phan Văn H2 phải chịu 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Phạm Thị Thúy H 13.992.000 (mười ba triệu chín trăm chín mươi hai nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005598 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2, Điều 29 Nghị quyết 326/UBTVQH14
Bà Phạm Thị Thúy H không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà H 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0006252 ngày 03-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh
Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án phúc thẩm, nếu bà H1 và ông H2 chưa thi hành số tiền trên thì hàng tháng bà H1, ông H2 còn phải trả cho bà H tiền lãi do chậm thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời giam chậm thi hành.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Giang |
Bản án số 384/2024/DS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 384/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay
