Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 384/2024/DS-PT
Ngày: 17-9-2024
V/v tranh chấp Quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 182/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thu S, sinh năm 1966 (có mặt).

Đia chỉ cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Đặng Hoàng K, sinh năm 1970 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện U (vắng mặt). Địa chỉ: Khóm C, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.
  2. Bà Đoàn Ngọc Đ, sinh năm 1973 (có mặt).
    Địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.
  3. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996 (vắng mặt).
  4. Anh Trịnh Trần S1, sinh năm 1993 (vắng mặt).
    Cùng địa chỉ cư trú: Khóm D, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.
  5. Ông Trương Văn G, sinh năm 1954 (vắng mặt).
  6. Bà Đặng Thị H, sinh năm 1959 (vắng mặt).
    Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
  7. Ông Phạm Trọng T, sinh năm 1964 (có mặt).
    Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bà Đặng Thu S (là nguyên đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Đặng Thu S trình bày: Năm 1993, bà Đặng Thị H, ông Trương Văn G chuyển nhượng cho bà phần đất có diện tích 2.500m², tại khóm D, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau với giá 1.200.000 đồng. Tại thời điểm chuyển nhượng, các bên chỉ thoả thuận miệng và không có đo đạc nên không xác định diện tích cụ thể mà chỉ ước lượng khoảng ¼ công (1.296m²/1 công). Đến năm 2020, yêu cầu bà Đặng Thị H làm lại giấy tay chuyển nhượng để bà đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, bà yêu cầu bà Đặng Thị H, ông Trương Văn G đo lại phần đất thì phát hiện diện tích đất thiếu so với diện tích mà bà Đặng Thị H chuyển nhượng cho bà vào năm 1993. Diện tích đất bị thiếu là do ông Đặng Hoàng K lấn chiếm của bà, phần đất mà ông Đặng Hoàng K lấn chiếm là 2.500m² thuộc một phần thửa số 89, tờ bản đồ số 04 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Hoàng K và bà Đoàn Ngọc Đ. Nay bà yêu cầu ông Đặng Hoàng K trả lại cho bà phần đất lấn chiếm là 2.500m² (theo đo đạc thực tế 2.504,2m²).

Bị đơn ông Đặng Hoàng K trình bày: Phần đất đang tranh chấp với bà Đặng Thu S là một phần diện tích đất của vợ chồng ông Phan Văn H1, bà Đặng Thị M (bà Đặng Thị M đã chết vào năm 2016) được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005. Năm 2009 vợ chồng ông (vợ ông Đặng Hoàng K là bà Đoàn Ngọc Đ) có thỏa thuận với vợ chồng ông Phan Văn H1 để hoán đổi đất với nhau theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/3/2005. Sau khi hoán đổi thì đã được Ủy ban nhân dân huyện U chấp nhận và đã chuyển tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 994830 ngày 06/11/2009, diện tích 11.170m². Khi hoán đổi đất với ông Phan Văn H1 thì hoán đổi toàn bộ khu đất nên không có đo cụ thể và ông đã đắp bờ bao chu vi phần đất quản lý, sử dụng để nuôi tôm cho đến nay. Năm 2009, vợ chồng ông đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vay vốn tại Ngân hàng A-Chi nhánh huyện U. Do phần đất tranh chấp thuộc diện tích đất của ông và ông không có lấn chiếm nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thu S.

Ông Phạm Trọng T cho rằng: Vào năm 1992, thực hiện chính sách trang trải đất đai và Nhà nước đã cấp cho hộ gia đình của ông Trương Văn G và hộ ông Phan Văn H1 mỗi hộ 20.000m² đất. Sau khi ông Trương Văn G nhận đất canh tác, đến năm 1993 Nhà nước đào kênh để phục vụ cho sản xuất nên đã chia cắt phần đất của ông Trương Văn G làm hai phần. Năm 1993, bà Đặng Thị H đã chuyển nhượng một phần cho vợ ông là bà Đặng Thu S. Nay ông thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà Đặng Thu S.

Theo bà Đặng Thị H cho rằng: Vào năm 1992, Ủy ban nhân dân xã K, huyện U giao vợ chồng bà phần đất có diện tích 20.000m². Năm 1993, vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận đăng ký sử dụng đất. Cùng thời điểm năm 1993, bà đã chuyển nhượng cho bà Đặng Thu S một phần đất không xác định được diện tích là bao nhiêu do các bên không có lập thành văn bản và không có đo đạc. Phần đất chuyển nhượng có 03 cạnh, hình tam giác, một cạnh giáp với phần đất của ông Phan Văn H1, giá chuyển nhượng là 1.200.000 đồng. Năm 2020, bà Đặng Thu S kê khai đăng ký nhưng không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận nên bà Đặng Thu S viết lại “Giấy chuyển nhượng đất” yêu cầu vợ chồng bà (ông Trương Văn G) ký tên để bà Đặng Thu S kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng. Theo hiện trạng phần đất hiện đang do ông Đặng Hoàng K sử dụng thì đúng với ranh giới đất trước đây, không có lấn sang phần đất mà bà đã chuyển nhượng cho bà Đặng Thu S.

Ông Trương Văn G xác định: Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc được Ban Nông nghiệp xã K giao hộ gia đình ông với diện tích 20.000m² vào có một cạnh tiếp giáp với đất của ông Phan Văn H1. Do Nhà nước múc kênh xáng phục vụ sản xuất nên phần đất của gia đình ông bị chia cắt thành hai phần. Năm 1993, vợ ông là bà Đặng Thị H chuyển nhượng đất cho bà Đặng Thu S khi chuyển nhượng thì ông không hay biết nhưng nay ông cũng chấp nhận việc chuyển nhượng trên và ông không có ý kiến khác.

Anh Trịnh Trần S1 và chị Nguyễn Thị L xác định: Ngày 01/3/2023 (al), có thuê đất của vợ chồng ông Đặng Hoàng K, bà Đoàn Ngọc Đ để canh tác, thời hạn thuê là 03 năm, mỗi năm là 15.000.000 đồng, đã trả xong tiền thuê 02 năm theo hợp đồng bằng số tiền 30.000.000 đồng. Việc tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thì anh Trịnh Trần S1, chị Nguyễn Thị L không có ý kiến mà tự thỏa thuận với vợ chồng ông Đặng Hoàng K.

Bà Đoàn Ngọc Đ thống nhất ý kiến và yêu cầu của ông Đặng Hoàng K. Những người tham gia tố tụng còn lại không có ý kiến, yêu cầu nào khác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh đã quyết định:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thu S về việc yêu cầu ông Đặng Hoàng K giao trả lại diện tích đất 2.500m² (theo đo đạc thực tế là 2.504,2m²) tại thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng; án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29/5/2024, bà Đặng Thu S kháng cáo yêu cầu xem xét lại hai bản vẽ trong đo đạc thẩm định để sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đặng Thu S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thu S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Kháng cáo của bà Đặng Thu S được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Xét về quan hệ pháp luật cho thấy, giữa bà Đặng Thu S với ông Đặng Hoàng Khởi tranh c với nhau phần đất giáp ranh có diện tích theo đo đạc thực tế là 2.504,2m², tại khóm D, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và áp dụng các quy định của Luật Đất đai để giải quyết là có căn cứ.
  3. Xét về việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho thấy: Diện tích đất tranh chấp chỉ là một phần nhỏ trong diện tích phần đất 11.170m² do Ủy ban nhân dân huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông Đặng Hoàng K, bà Đoàn Ngọc Đ, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh và không thuộc trường hợp phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không cần thiết phải đưa Ủy ban nhân dân huyện U vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ông Phan Văn H1 vợ là bà Đặng Thị M là người hoán đổi đất cho ông Đặng Hoàng K vào năm 2009, việc hoán đổi đã được cơ quan Nhà nước cấp có thẩm quyền chấp nhận và đã cấp quyền sử dụng đất cho ông Đặng Hoàng K. Giữa ông Đặng Hoàng K với ông Phan Văn H1 không có tranh chấp và ông Phan Văn H1 không có liên quan gì về quyền và nghĩa vụ trong việc tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn. Hơn nữa, bà Đặng Thị M đã chết vào năm 2016 và không thuộc trường hợp phải đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ của đương sự. Vợ chồng anh Đoàn Xa L1, chị Lý Cẩm T1 là người thuê đất của ông Đặng Hoàng K và hợp đồng thuê đất đã kết thúc trước khi ông Đặng Hoàng K cho vợ chồng anh Trịnh Trần S1 thuê đất. Vợ chồng anh Đoàn Xa L1 đã giao trả đất xong và cũng không có tranh chấp với ông Đặng Hoàng K. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Phan Văn H1, bà Đặng Thị M, anh Đoàn Xa L1, chị Lý Cẩm T1 cùng với hai người con của anh Đoàn Xa L1 là Đoàn Huỳnh N (sinh năm 2017), Đoàn Thảo V (sinh năm 2010) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng với quy định tại Điều 68, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  4. Xét về nguồn gốc đất; nội dung tranh chấp và kháng cáo của bà Đặng Thu S: Bà Đặng Thu S cho rằng ông Đặng Hoàng K lấn chiếm của bà phần đất có diện tích 2.504,2m², phần đất này do bà nhận chuyển nhượng của bà Đặng Thị H vào năm 1993. Đến năm 2020 khi đo đạc để làm thủ tục xin cấp quyền sử dụng thì phát hiện thiếu đất và phần diện tích đất bị thiếu đang do ông Đặng Hoàng K quản lý, sử dụng nên kiện đòi. Còn ông Đặng Hoàng K xác định phần đất ông đang quản lý, sử dụng là phần đất của ông Phan Văn H1 được Nhà nước cấp từ thời kỳ trang trả đất đai và ông Phan Văn H1 đã được cấp quyền sử dụng đất vào năm 2005. Đến năm 2009 thì ông với ông Phan Văn H1 thỏa thuận hoán đổi đất với nhau và ông cũng đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng trên toàn bộ diện tích đất của ông Phan Văn H1 trước đây. Khi nhận hoán đổi đất thì phần đất có ranh giới rõ ràng, ông cũng đã đắp bờ bao để sử dụng đúng vụ trí đất hoàn toàn không có lấn sang phần đất của bà Đặng Thu S nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thu S.

Xét về chứng cứ, theo lời khai của bà Đặng Thu S thì phần đất tranh chấp là do bà Đặng Thu S nhận chuyển nhượng của bà Đặng Thị H vào năm 1993 (tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đặng Thu S khai là nhận chuyển nhượng vào năm 1997) và khi nhận chuyển nhượng không xác định được diện tích, vị trí phần đất một cách cụ thể do không đo đạc mà chỉ ước lượng diện tích khoảng ¼ công, bằng 972m², có lúc bà Đặng Thu S xác định phần đất có chiều ngang 16 mét, dài 78 mét (tương đương 1.248m²).

Theo xác định của bà Đặng Thị H thì phần đất mà bà chuyển nhượng cho bà Đặng Thu S là chuyển nhượng vào năm 1993, khi chuyển nhượng đất không xác định diện tích cụ thể do không có lập bằng văn bản, không đo đạc đất và và hình thể phần đất chỉ có 03 cạnh, hình tam giác có 01 cạnh tiếp giáp với phần đất của ông Phan Văn H1. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Đặng Thị H xác định là phần đất mà ông Đặng Hoàng K sử dụng hiện nay là đúng với vị trí phần ranh tiếp giáp với đất của bà trước đây, không có lấn sang phần đất mà bà chuyển nhượng cho bà Đặng Thu S.

Quá trình quản lý sử dụng đất từ năm 1993 đến nay thì bà Đặng Thu S không thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định, không đăng ký chuyển tên quyền sử dụng đất, chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đối với phần đất đang tranh chấp và bà Đặng Thu S cũng không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh là ông Đặng Hoàng K lấn ranh sang phần đất của bà Đặng Thu S nhận chuyển nhượng của bà Đặng Thị H. Ngoài ra, tại khu vực có đất tranh chấp thì bà Đặng Thu S còn quản lý sử dụng một phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 673,7m² và phần đất này cũng có hình thể 03 cạnh, hình tam giác, phù hợp với ý kiến xác định của bà Đặng Thị H và phù hợp với diện tích đất khi nhận chuyển nhượng theo lời khai của bà Đặng Thị H và bà Đặng Thu S.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đặng Thu S cho rằng năm 2019 thì mới xãy ra việc ông Đặng Hoàng K lấn chiếm đất do ông Đặng Hoàng K đưa cơ giới vào múc lại phần bờ ranh. Do giữa bà với ông Đặng Hoàng K là chị em ruột nên không có mời chính quyền địa phương đến lập biên bản. Trong khi đó thì ông Đặng Hoàng K không thừa nhận việc dùng cơ giới múc lại bờ ranh, lấn chiếm đất như lời trình bày của bà Đặng Thu S và bà Đặng Thu S cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho việc lấn chiếm đã nêu.

Xét qua kết quả đo đạc trên thực địa cho thấy, tại kết quả thẩm định, đo đạc lần thứ nhất vào ngày 03/8/2022 do Công ty trách nhiệm hữu hạn tư vấn, xây dựng, đo đạc bản đồ Tấn C thực hiện thì phần đất tranh chấp có diện tích 3.080,2m² và kết quả đo đạc cũng thể hiện tại khu vực tiếp giáp với đất tranh chấp còn có một phần diện tích đất đang do bà Đặng Thu S quản lý, sử dụng có diện tích 673,3m², kết quả thẩm định, đo đạc này bà Đặng Thu S thừa nhận. Còn tại kết quả thẩm định, đo đạc lần thứ hai do Công ty trách nhiệm hữu hạn P thực hiện ngày 20/11/2023 thì phần đất tranh chấp được xác định lại bằng 2.504,2m², kết quả thẩm định, đo đạc này bà Đặng Thu S không thừa nhận. Từ kết quả thẩm định trên đã xác định diện tích đất tranh chấp ít nhất cũng là 2.504,2m² và ngoài diện tích đất này ra thì bà Đặng Thu S còn quản lý, sử dụng diện tích đất 673,3m² trong khi phần đất mà bà Đặng Thu S nhận chuyển nhượng của bà Đặng Thị H chỉ có ¼ công tương đương 972m². Hiện trạng phần đất tại thực địa thì không có công trình xây dựng cơ bản trên đất mà chỉ là đất dùng vào việc nuôi trồng thủy sản. Phần bờ ranh thì hiện tại được xác định được rõ ràng và đã được hình thành qua thời gian dài và đang do ông Đặng Hoàng K quản lý, sử dụng. Từ đó những cơ sở trên, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thu S là có căn cứ.

Kháng cáo của bà Đặng Thu S, bà xác định là không thống nhất ý kiến về kết quả đo đạc lần thứ hai của Công ty P vào ngày 20/11/2023, nên yêu cầu đo đạc lại đất. Tuy nhiên, từ nội dung tranh chấp đã nêu trên cho thấy kết quả đo đạc không phải là chứng cứ duy nhất để xác định việc tranh chấp cũng như việc các bên chỉ tranh chấp với nhau phần ranh mà theo bà Đặng Thu S cho là ông Đặng Hoàng K lấn chiếm. Nhưng qua chứng cứ thì bà Đặng Thu S không xác định được diện tích đất, vị trí đất khi nhận chuyển nhượng; chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc ông Đặng Hoàng K đã thực hiện hành vi lấn chiếm đất. Trong khi đó, bà Đặng Thị H là người chuyển nhượng đất cho bà Đặng Thu S xác định là ông Đặng Hoàng K không có việc lấn chiếm đất và đang sử dụng đất đúng ranh giới.

Từ những cơ sở trên, không có căn cứ để xác định phần đất 2.504,2m² đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Đặng Thị H và không có căn cứ để xác định ông Đặng Hoàng K lấn chiếm đất. Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh.

  1. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp, nên chấp nhận.
  2. Bà Đặng Thu S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

    Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Đặng Thu S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

  2. Áp dụng các Điều 26; 147, 148; 157; 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 100; 166; 168; 170; 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
    • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thu S về việc buộc ông Đặng Hoàng K giao trả lại diện tích đất 2.500m² (theo đo đạc thực tế là 2.504,2m²) tại khóm D, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.
    • - Chi phí tố tụng: Bà Đặng Thu S phải chịu chi phí đo đạc là 6.693.000 đồng và chi phí thẩm định giá là 6.993.000 đồng, đã nộp xong. Ông Đặng Hoàng K phải chịu chi phí đo đạc 18.985.320 đồng, đã nộp xong.
    • - Bà Đặng Thu S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.750.000 đồng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 2.813.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0010268 ngày 14/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, bà Đặng Thu S còn phải tiếp tục nộp 5.937.000 đồng.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm bà Đặng Thu S phải chịu 300.000 đồng, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã dự nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0006482 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, nay chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện U Minh;
  • - Chi cục THADS huyện U Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 384/2024/DS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 384/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ại phiên tòa phúc thẩm, bà Đặng Thu S cho rằng năm 2019 thì mới xãy ra việc ông Đặng Hoàng K lấn chiếm đất do ông Đặng Hoàng K đưa cơ giới vào múc lại phần bờ ranh. Do giữa bà với ông Đặng Hoàng K là chị em ruột nên không có mời chính quyền địa phương đến lập biên bản. Trong khi đó thì ông Đặng Hoàng K không thừa nhận việc dùng cơ giới múc lại bờ ranh, lấn chiếm đất như lời trình bày của bà Đặng Thu S và bà Đặng Thu S cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho việc lấn chiếm đã nêu. Xét qua kết quả đo đạc trên thực địa cho thấy, tại kết quả thẩm định, đo đạc lần thứ nhất vào ngày 03/8/2022 do Công ty trách nhiệm hữu hạn tư vấn, xây dựng, đo đạc bản đồ Tấn C thực hiện thì phần đất tranh chấp có diện tích 3.080,2m2 và kết quả đo đạc cũng thể hiện tại khu vực tiếp giáp với đất tranh chấp còn có một phần diện tích đất đang do bà Đặng Thu S quản lý, sử dụng có diện tích 673,3m2, kết quả thẩm định, đo đạc này bà Đặng Thu S thừa nhận. Còn tại kết quả thẩm định, đo đạc lần thứ hai do Công ty trách nhiệm hữu hạn P thực hiện ngày 20/11/2023 thì phần đất tranh chấp được xác định lại bằng 2.504,2m2, kết quả thẩm định, đo đạc này bà Đặng Thu S không thừa nhận. Từ kết quả thẩm định trên đã xác định diện tích đất tranh chấp ít nhất cũng là 2.504,2m2 và ngoài diện tích đất này ra thì bà Đặng Thu S còn quản lý, sử dụng diện tích đất 673,3m2 trong khi phần đất mà bà Đặng Thu S nhận chuyển nhượng của bà Đặng Thị H chỉ có ¾ công tương đương 972m2. Hiện trạng phần đất tại thực địa thì không có công trình xây dựng cơ bản trên đất mà chỉ là đất dùng vào việc nuôi trồng thủy sản. Phần bờ ranh thì hiện tại được xác định được rõ ràng và đã được hình thành qua thời gian dài và đang do ông Đặng Hoàng K quản lý, sử dụng. Từ đó những cơ sở trên, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thu S là có căn cứ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger