|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 384/2024/HS-PT
Ngày: 10/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Việt Hà |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Vũ Đông |
| Ông Nguyễn Tiến Dũng. |
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Thành, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Ngọc Vỹ - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 200/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
-
Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Văn H, (tên gọi khác: Không), sinh năm 1989 tại huyện Y, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm 9, xã 9, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Nhân viên ngân hàng M; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Trần Thị B; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Phạm Thị P; có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/6/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Minh L và Luật sư Đinh Thị N - Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Luật sư N có mặt; Luật sư L vắng mặt.
- Trong vụ án còn có: Người bị hại không kháng cáo, bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn H ký Hợp đồng làm nhân viên tại ngân hàng H3 (sau đây gọi là ngân hàng M), địa chỉ: số 274 đường T, thành phố N, tỉnh Nam Định từ tháng 6/2022. Quá trình làm việc tại ngân hàng, do được phân công làm ở bộ phận khách hàng doanh nghiệp nên H quen biết được với nhiều người trong đó có chị Trần Thị N1, ở xóm 9, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; ông Ngô Phúc T, ở tổ dân phố số 3 thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định và chị Nguyễn Thị H1, ở xóm 12 xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Ngày 01/11/2022, H được Trần Anh T1 ở số 1/49 P, phường N, thành phố N là đồng nghiệp cùng làm tại ngân hàng M nhờ tìm hộ người cho T1 vay 800.000.000 đồng để trả tiền mua đất đấu giá. Vì thế, H đã giới thiệu chị Nguyễn Thị H1 cho T1 vay tiền. Sau đó, T1 đã viết Giấy biên nhận vay tiền và đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình cho chị H1 để vay số tiền 800.000.000 đồng trước sự chứng kiến của H. Do quá trình vay tiền, T1 không sử dụng hết số tiền vay nên H đã hỏi vay lại 250.000.000 đồng trong số tiền 800.000.000 đồng mà T1 đã vay của chị H1 thì T1 đồng ý và ngày 03/11/2022 đã chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng M1 cho H. Số tiền nhận được từ T1, H đã sử dụng để chơi đánh bạc bằng hình thức tài sửu trên trang web Suvip thông qua tài khoản game tên là “Huong55” với mã đăng nhập là “Msb2022”. Sau đó, cả H và T1 đã hoàn trả đủ số tiền 800.000.000 đồng cho chị H1 nhưng T1 vẫn chưa lấy lại Giấy biên nhận vay tiền cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đưa cho chị H1.
Ngày 04/11/2022, do biết T1 vẫn chưa lấy lại Giấy biên nhận vay tiền nên H đã nhờ T1 hỏi vay chị H1 hộ mình số tiền 200.000.000 đồng thì T1 đồng ý. Sau khi nhận được tiền chị H1 chuyển, T1 đã chuyển lại số tiền 200.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của H. Số tiền nhận được, H cũng sử dụng hết để nạp vào tài khoản game đánh bạc trên mạng chơi và bị thua hết tiền. Do không thấy H trả tiền nên ngày 14/11/2022, chị H1 cùng T1 đã hẹn gặp H tại quán C, thành phố N để nói chuyện. Tại đây, H xin chị H1 khất nợ và hứa sẽ trả tiền cho chị H1 vào ngày 16/11/2022 thì chị H1 đồng ý.
Đến ngày 16/11/2022, do không có tiền để trả nợ nên H đã nảy sinh ý định hỏi vay tiền của chị Trần Thị N1 để lấy tiền trả cho chị H1. H đã liên lạc qua điện thoại để hỏi vay chị N1 số tiền 1.000.000.000 đồng trong vòng 10 ngày và nói dối là để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng cho khách. Sau đó, chị N1 đã giới thiệu anh Nguyễn Văn T2 ở TDP P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định cho H vay tiền. H liên lạc qua điện thoại với anh T2 thì cả hai hẹn gặp nhau trực tiếp tại số G Đ, phường C, thành phố N để trao đổi. Đến khoảng 13h30' cùng ngày, H gặp anh T2
2
tại điểm hẹn. H tự giới thiệu mình là nhân viên ngân hàng M và nói dối đang cần vay số tiền 1.000.000.000 đồng để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng cho khách. H thỏa thuận với anh T2 sẽ trả lãi 2.000 đồng/01 triệu/01 ngày và trong vòng 10 ngày sẽ trả hết cả gốc và lãi đồng thời H sẽ đưa Căn cước công dân của mình cho anh T2 để làm tin thì anh T2 đồng ý cho H vay tiền. Do không có sẵn tiền nên anh T2 đã gọi điện cho bạn mình là anh Phạm Văn H2 ở số 46/15/26 Đ, phường C, thành phố N để hỏi vay 1.000.000.000 đồng thì anh H2 đồng ý. Anh T2 đã nhắn cho anh H2 số tài khoản ngân hàng MSB của H thì một lúc sau, anh H2 đã chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng vào tài khoản của H. Sau khi nhận được tiền, H chuyển trả luôn cho chị H1 số tiền 208.000.000 đồng. Số tiền 792.000.000 đồng còn lại, H nạp hết vào tài khoản game "Huong55" để đánh bạc trên trang web Suvip.
Đến ngày 21/11/2022, do cần tiền để đánh bạc trên mạng Internet nên H tiếp tục hỏi vay thêm anh T2 số tiền 500.000.000 đồng, nói dối là để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng cho khách và hẹn sẽ trả trong thời gian 03 ngày thì anh T2 đồng ý và đã chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng M của H. Sau khi nhận được số tiền 500.000.000 đồng do anh T2 chuyển, H cũng nạp hết vào tài khoản game "Huong55" để đánh bạc trên mạng Internet và bị thua hết tiền.
Do không có khả năng để trả nợ cho anh T2 nên H đã nảy sinh ý định vay tiền của ông Ngô Phúc T để lấy tiền trả cho anh T2. Cùng ngày 21/11/2022, H gọi điện cho ông T hỏi vay số tiền 700.000.000 đồng trong vòng 01 ngày và nói dối là để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng cho khách. Vì tin tưởng H nên ông T đã chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng cho H vay mà không lấy lãi. Sau khi nhận được số tiền 700.000.000 đồng do ông T chuyển, ngày 22/11/2022, H đã chuyển trả cho anh T2 số tiền gốc của lần vay ngày 21/11/2022 là 500.000.000 đồng cùng với số tiền lãi là 2.500.000 đồng và trả thêm số tiền lãi của khoản vay 1.000.000.000 đồng vào ngày 16/11/2022 là 14.000.000 đồng. Số tiền còn lại, H cũng nạp hết vào tài khoản game để đánh bạc trên mạng Internet. Sau khi trả một phần tiền cho anh T2 như trên, H tiếp tục nói dối anh T2 là cần tiền làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng cho khách và hỏi vay thêm anh T2 số tiền 700.000.000 đồng. H thỏa thuận vay trong thời gian 10 ngày và với mức lãi suất như trước. Do thấy H trả tiền đúng hẹn nên anh T2 đã đồng ý và chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho H vay thêm 700.000.000 đồng. Đồng thời, anh T2 đã đến ngân hàng M gặp và yêu cầu H ký vào 01 “Giấy biên nhận vay tiền” với nội dung H vay của anh T2 số tiền 1.700.000.000 đồng trong thời hạn 03 ngày với lãi suất 02%/tháng để đáo hạn ngân hàng. Đối với số tiền 700.000.000 đồng nhận được từ anh T2, H cũng sử dụng để đánh bạc trên mạng Internet hết.
Tối ngày 23/11/2022, ông T không thấy H trả tiền và không liên lạc được với H nên đã đến phòng trọ của H ở đường T, thành phố N tìm. Tại đây, ông T
3
gặp H cùng với anh Doãn Phạm Tuấn P1 ở số 9 Đ, phường L, thành phố N là đồng nghiệp của H tại ngân hàng M. Ông T yêu cầu H trả số tiền 700.000.000 đồng thì H rút tiền từ tài khoản game đánh bạc về tài khoản ngân hàng của mình được 200.000.000 đồng rồi chuyển trả hết cho ông T. Sau đó, H viết 01 “Bản cam kết” đưa cho ông T với nội dung còn nợ ông T số tiền 500.000.000 đồng, hứa ngày 24/11/2022 sẽ trả hết số tiền trên và có anh P1 ký là người làm chứng. Tuy nhiên, đến sáng ngày 24/11/2022, vì không còn khả năng trả nợ cho anh T2 và ông T nên H đã bỏ đi khỏi phòng trọ đồng thời nghỉ việc tại ngân hàng M. Ông T đi tìm để đòi tiền thì gặp được H ở khu vực cầu G, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định. Lúc này, H rút thêm được 50 triệu từ tài khoản game ra và chuyển trả hết cho ông T.
Đến ngày 25/11/2022, anh T2 gọi điện cho H nhưng không liên lạc được, đến ngân hàng M để tìm thì được biết H đã nghỉ việc. Còn ông T, sau khi không tìm được H thì đã tìm đến nhà chị Phạm Thị P2 người chung sống như vợ chồng với H ở xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định để nói chuyện về việc H nợ tiền không trả thì đến gần tết năm 2023, H đã đưa tiền cho chị P để chuyển khoản trả thêm cho ông T 10.000.000 đồng.
Một thời gian sau, không thấy H trả tiền và vẫn không liên lạc được với H nên ngày 27/3/2023 anh Nguyễn Văn T2 đã làm đơn trình báo toàn bộ sự việc đến Cơ quan công an đồng thời tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 “Giấy biên nhận vay tiền” đề ngày 22/11/2022.
Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Văn H lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 2.140.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T2 và ông Ngô Phúc T để có tiền trả nợ cho chị Nguyễn Thị H1 và nạp vào tài khoản game để đánh bạc trên mạng Internet như trên.
Căn cứ lời khai của Phạm Văn H, Cơ quan điều tra đã mời ông Ngô Phúc T lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, ông Ngô Phúc T đã khai nhận sự việc như trên phù hợp với lời khai của H đồng thời ông T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 “Bản cam kết” đề ngày 23/11/2022.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với 01 “Giấy biên nhận vay tiền” đề ngày 22/11/2022 và 01 “Bản cam kết” đề ngày 23/11/2022 do anh Nguyễn Văn T2 và ông Ngô Phúc T giao nộp. Tại bản Kết luận giám định số 1316/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Chữ viết dưới mục “Bên nhận tiền” trên “Giấy biên nhận vay tiền” và chữ viết trên “Bản cam kết” so với chữ viết đứng tên Phạm Văn H trên mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
Cơ quan điều tra đã yêu cầu Ngân hàng M sao kê tài khoản ngân hàng số 0901455522 của Phạm Văn H trong khoảng thời gian tháng 11/2022 hoàn toàn phù hợp với lời khai của H cùng những người liên quan.
4
Về thu giữ và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Văn H 01 điện thoại di động Iphone 6S đã qua sử dụng và 01 Căn cước công dân mang tên Phạm Văn H cấp ngày 10/02/2023. Đối với số đồ vật, tài sản này, Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng, chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ truy tố, xét xử. Đối với 01 “Giấy biên nhận vay tiền” và 01 “Bản cam kết” đã tạm giữ của anh Nguyễn Văn T2 và ông Ngô Phúc T, sau khi sao y đưa vào hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại bản gốc cho anh T2 và ông T.
Về dân sự: Anh Nguyễn Văn T2 yêu cầu Phạm Văn H phải hoàn trả số tiền 1.700.000.000 đồng đã chiếm đoạt; ông Ngô Phúc T yêu cầu H phải hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt là 440.000.000 đồng nhưng đến nay H đều chưa trả lại tiền cho những người bị hại.
Cáo trạng số 108/CT-VKSNĐ-P3 ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Phạm Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 08/01/2024, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 15 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2023.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/01/2024, bị cáo Phạm Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Phạm Văn H và người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt; bị cáo có hai con nhỏ, bản thân là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn ảnh khó khăn; bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội; có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng 3, ông nội được truy tặng bằng khen vì có thành tích tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp; bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn T2 được số tiền 20.000.000 đồng, cho ông Ngô Phúc T được hết số tiền 440.000.000 đồng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn T2 xong số tiền 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng) mà Tòa án sơ thẩm đã quyết định. Những người bị hại ông T2, ông T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị
5
cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo có quan điểm: Kháng cáo của bị cáo phù hợp theo quy định nên cần được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm; về chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều đúng quy định tố tụng.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo H giảm cho bị cáo từ 01 năm đến 02 năm tù; Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H trong hạn luật định, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
-
[2] Về nội dung:
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Vào các ngày 16/11/2022, ngày 21/11/2022 và ngày 22/11/2022, do thiếu tiền để trả nợ và đánh bạc qua mạng Internet, lợi dụng việc mình đang là nhân viên ngân hàng M, Phạm Văn H đã đưa ra thông tin gian dối là cần tiền làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng cho khách để anh Nguyễn Văn T2 và ông Ngô Phúc T tin tưởng cho vay tiền. Từ đó, H đã chiếm đoạt của các bị hại tổng số tiền là 2.140.000.000 đồng; trong đó của anh T2 là 1.700.000.000 đồng; của ông T là 440.000.000 đồng đến nay đã trả cho anh T2 được số tiền 20.000.000đ, trả cho ông T được hết số tiền 440.000.000 đồng.
6
Do có hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật đối với bị cáo.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi của Phạm Văn H đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn T2 và ông Ngô Phúc T nhằm lừa dối để anh T2 và ông T tin tưởng cho vay tiền; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.
Tòa án sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo bị cáo; nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Phạm Văn H có nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản giá trị từ 2.000.000đ trở lên nên chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt; bị cáo có hai con nhỏ, bản thân là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn ảnh khó khăn; bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội; có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng 3, ông nội được truy tặng bằng khen vì có thành tích tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp; bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn T2 được số tiền 20.000.000đ, cho ông Ngô Phúc T được hết số tiền 440.000.000 đồng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn T2 xong số tiền 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng) mà bị cáo đã chiếm hưởng từ việc gian dối. Những người bị hại ông T2, ông T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Do đó, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra cũng như các tình tiết về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của bị cáo H xin giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ, nên cần chấp nhận.
7
- [3] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã trả xong cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng) mà bị cáo đã chiếm hưởng từ việc gian dối.
- [4] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về việc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có căn cứ nên được chấp nhận. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [5] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
-
[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, cụ thể như sau:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2023.
- [2] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo trả xong cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng).
- [3] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Hà |
8
9
Bản án số 384/2024/HS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 384/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm
