Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 384/2025/DS-PT

Ngày 01-7-2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi;

Bà Phạm Thị Liên Hiệp;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 01 tháng 7 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Do bản án sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 347/2025/QĐ-PT ngày 10/6/2025, giữa:

Nguyên đơn:

1. Anh Bùi Quốc V, sinh năm 1989;

2. Chị Dương Thị Cẩm P, sinh năm 1989;

Cùng địa chỉ: ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp.

Địa chỉ hiện nay: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của anh V, chị P: Chị Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Số G, đường số B, cụm D, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ hiện nay: Số G, đường số B, cụm D, khóm M, xã C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn:

Anh Nguyễn Nhật A, sinh năm 2000;

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.

Địa chỉ hiện nay: Khóm A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo: Anh Nguyễn Nhật A là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn anh Bùi Quốc V, chị Dương Thị Cẩm P và người đại diện hợp pháp chị Lê Thị Ngọc L trình bày:

Vào ngày 02 tháng 8 năm 2024 vợ, chồng anh chị có ký kết hợp đồng mua bán xe ô tô với anh Nguyễn Nhật A, theo đó vợ, chồng anh chị bán cho anh Nguyễn Nhật A một chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 66A-22931, giấy đăng ký xe ô tô số 66001147 do Công an huyện T cấp ngày 05 tháng 10 năm 2023 xe có đặc điểm:

  • - Xe nhãn hiệu Cheverolet.
  • - Màu sơn: Ghi.
  • - Số máy : F18D415240286.
  • - Số khung: RLLjA695EFH929034.
  • - Loại: CRUZE.
  • - Số chỗ ngồi: % chỗ.

- Thỏa thuận với giá bán số tiền là 260.000.000 đồng phương thức thanh toán bằng tiền mặt và được chia thành 02 lần thanh toán như sau:

+ Lần thứ nhất: Thanh toán với số tiền 230.000.000 đồng ngay sau khi hợp đồng được chứng nhận.

+ Lần thứ hai: Thanh toán số tiền còn lại là 30.000.000 đồng còn lại khi bên mua được giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tại cơ quan có thẩm quyền.

Trong ngày 02 tháng 8 năm 2024 thì anh Nhật A đã thanh toán cho vợ chồng anh số tiền 230.000.000 đồng như đã thỏa thuận. Đến ngày 16 tháng 8 năm 2024 khi các bên đến Công an huyện T làm thủ tục sang tên theo quy định 07 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ là đã có giấy đăng ký xe. Tuy nhiên đến hiện tại thì anh Nhật A chưa thanh toán cho vợ chồng anh chị theo thỏa thuận vợ, chồng anh chị đã nhiều lần liên hệ và yêu cầu anh Nhật A thanh toán nhưng anh Nhật A không hợp tác, không trả tiền theo thỏa thuận, mặc dầu anh chị có gửi tin nhắn zalo và thư yêu cầu trả tiền ngày 05 tháng 9 năm 2024 và nhận giấy báo phát ngày 25 tháng 9 năm 2024 nhưng anh Nhật A không thực hiện.

Nay, anh Bùi Quốc V và chị Dương Thị Cẩm P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xem xét buộc anh Nguyễn Nhật A số tiền còn thiếu theo hợp đồng mua bán xe còn lại là 30.000.000đồng.

- Bị đơn anh Nguyễn Nhật A trình bày:

Vào ngày 02 tháng 8 năm 2024 thì anh có mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 66A-22931 của vợ, chồng anh Bùi Quốc V với số tiền là 260.000.000 đồng và đã thanh toán trước số tiền 230.000.000 đồng và hẹn khi nào làm thủ tục sang tên xong thì trả đủ tiền và để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng anh V đã giữ lại toàn bộ giấy tờ liên quan là chiếc xe và anh V là người trực tiếp tiến hành thủ tục sang tên, khi có giấy hẹn và biển số xe, vợ chồng anh V có đến nhà gặp anh và đã trực tiếp nhận đủ số tiền là 30.000.000 đồng vì khi thỏa thuận chiếc xe là mua đứt bán đoạn anh chỉ biết trả tiền đủ nên không cần thiết làm bất kỳ giấy tờ gì. Nếu vợ chồng anh V cho rằng anh còn nợ số tiền trên thì sao trong thời gian anh sử dụng chiếc xe cho đến khi anh bán cho người khác thì vợ chồng anh V không gọi điện thoại hoặc nhắn tin trình báo sự việc đến các cấp cơ quan có thẩm quyền để giải quyết số tiền cho rằng anh còn nợ. Vì vậy, anh không thống nhất theo yêu cầu của vợ chồng anh Bùi Quốc V.

Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp quyết định:

Căn cứ Điều 430; 440 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Quốc V và chị Dương Thị Cẩm P về việc yêu cầu anh Nguyễn Nhật A trả số tiền còn lại của hợp đồng mua bán xe ngày 02 tháng 8 năm 2024 số tiền là 30.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Bùi Quốc V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 750.000 đồng theo biên lai thu số 0011485 ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

- Anh Nguyễn Nhật A phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, anh Nhật A kháng cáo toàn bộ bản án yêu cầu xem xét giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt chị L, anh Nhật A. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Anh Nhật A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đã cung cấp thêm chứng cứ để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.

Anh Nhật A trình bày: Vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trước đây vì do đã trả tiền xong theo hợp đồng nên không có làm giấy tờ biên nhận anh V, chị P nhận tiền lưu lại; cũng không có ai chứng kiến việc trả tiền. Căn cứ là anh V giao giấy tờ xe thì anh Nhật A đã giao đủ số tiền 30.000.000 đồng cho anh V và tiếp tục sử dụng xe thời gian lâu dài mà không có tranh chấp gì. Việc anh V giao thư yêu cầu trả tiền thì giao cho ai thi anh Nhật A không biết vì nhà anh kinh doanh nên nhiều người đến nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh V.

Chị L trình bày: Sau khi anh Nhật A nhận giấy tờ xe được cấp thì anh V đã có điện thoại, có đến nhà anh Nhật A để yêu cầu trả tiền nhưng anh Nhật A lẫn tránh, xóa kết bạn Zalo với anh V. Việc anh V gửi thư cho anh Nhật A là không phải trách nhiệm mà là để nhắc nhở anh Nhật A có trách nhiệm trả tiền. Việc giấy tờ xe là do anh Nhật A làm thủ tục và nhận từ Công an Huyện vì có sự thay đổi biển số xe khác từ anh V sang anh Nhật A nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nhật A; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự: anh V, chị P trình bày vào ngày 02 tháng 8 năm 2024 vợ, chồng anh chị có ký kết hợp đồng mua bán xe ô tô với anh Nguyễn Nhật A, chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 66A-22931 với số tiền là 260.000.000 đồng. Anh Nhật A trả trước số tiền 230.000.000 đồng và đã được giấy đăng ký xe. Nhưng anh Nhật A chưa thanh toán số tiền còn lại 30.000.000 đồng.

[3] Theo anh Nhật A có văn bản ý kiến và trình bày cho rằng anh đã thanh toán cho vợ chồng anh V số tiền 30.000.000 đồng còn lại sau khi làm thủ tục chuyển tên xe cho anh; việc trả tiền thời gian nào thì anh không nhớ, việc trả tại nhà anh, tuy nhiên vì tin tưởng nên anh không có làm biên nhận với vợ chồng anh V.

Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa xác định: Căn cứ vào hợp đồng mua bán xe mô tô ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa anh Bùi Quốc V, chị Dương Thị Cẩm P và anh Nguyễn Nhật A được Phòng C xác nhận là có thật, toàn bộ nội dung và hình thức hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, khi ký hợp đồng giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, thời điểm ký kết có đầy đủ năng lực hành vị dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì anh Nhật A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với số tiền còn lại của hợp đồng.

Anh Nhật A không cung cấp được chứng cứ đã trả tiền hoặc thể hiện anh V và chị P đã nhận tiền của anh trả. Mặt khác trong thời gian anh Nhật A không trả tiền cho vợ chồng anh V có gửi thư yêu cầu anh Nhật A trả tiền ngày 05 tháng 9 năm 2024 và có cung cấp phiếu báo phát nhưng anh Nhật A không trả lời cho anh V chị P là anh đã trả tiền xong, mà anh Nhật A cho rằng trong quá trình mua bán xe giữa các bên mua đứt bán đoạn và anh đã sử dụng bán chiếc xe cho người khác là không có căn cứ, từ các phân tích trên việc yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Đồng thời căn cứ vào nội dung quyết định các đương sự phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Sau khi xét xử sơ thẩm thì anh Nhật A kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện anh V, chị P. Anh Nhật A cung cấp thêm chứng cứ mới là tường trình của anh Bùi Tuấn A1 là nhân viên bưu tá của Bưu điện huyện T xác nhận nội dung đối với thư của anh V gửi thì anh Tuấn A1 giao cho người nhà của anh Nhật A nhận thay và nhưng nội dung thư anh không biết.

[6] Tại các phiên tòa phúc thẩm, Các đương sự xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự không còn chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy xét nhận định Tòa án cấp sơ thẩm. Các đương sự thống nhất số tiền đang tranh chấp 30.000.000 đồng không có chứng cứ gì chứng minh anh Nhật A đã trả cho anh V, chị P. Đối với việc nhận thư yêu cầu trả tiền thì anh Nhật A cung cấp thêm tờ tường trình của anh Tuấn A1 xác định đã có giao thư cho người nhà anh Nhật A nhận. Tại phiên tòa sơ thẩm thì anh Nhật A thừa nhận anh có nhận thư yêu cầu trả tiền nhưng vì anh nghĩ đã trả tiền xong nên anh không thực hiện việc phản đối với anh V, chị P nên đây là trách nhiệm của anh Nhật A về nghĩa vụ trả tiền. Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nhật A, giữ nguyên bản án sơ thẩm là đúng theo quy định pháp luật.

[7] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Nhật A; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Nhưng cần ghi lại cách tuyên trả lãi chậm trả theo hướng dẫn của quy định pháp luật cho thống nhất để dễ dàng cho việc thi hành án. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên anh Nhật A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Nhật A.

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Quốc V và chị Dương Thị Cẩm P về việc yêu cầu anh Nguyễn Nhật A trả số tiền còn lại của hợp đồng mua bán xe ngày 02 tháng 8 năm 2024 số tiền là 30.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Bùi Quốc V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 750.000 đồng theo biên lai thu số 0011485 ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

- Anh Nguyễn Nhật A phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Nhật A phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001218 ngày 25/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Anh Nhật A không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng TT, KTNV&THA;
  • - TAND khu vực 10 - Đồng Tháp;
  • - Phòng THADS khu vực 10 – Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 384/2025/DS-PT ngày 01/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 384/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Bùi Quốc V BĐ: Nguyễn Nhật A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger