|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 384/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/9/2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành, ông Trần Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 285/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/6/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 403/2024/QĐXXST-DS ngày 12/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Đặng Văn H, sinh năm 1993. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Xuân H1, sinh năm 1965 và Đặng Thị M, sinh năm 1966. Cùng trú tại: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 09/11/2016. Thời gian đầu sau khi kết hôn, chị N và anh H sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2020, do việc làm ăn không thuận lợi nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Năm 2021, anh H đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Thời gian đầu sau khi anh H đi Đài Loan, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, thăm hỏi nhau. Nhưng đến năm 2022 thì anh H ít liên lạc về với gia đình và vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, vợ chồng không còn quan tâm, liên lạc với nhau nữa, tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn H có một con chung là cháu Đặng Xuân Q, sinh ngày 07/3/2017, hiện đang ở với ông bà nội là ông Đặng Xuân H1 và bà Đặng Thị M. Ly hôn, chị N yêu cầu Toà án giải quyết cho chị N được người trực tiếp nuôi cháu Q và không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Đặng Văn H: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh H thông qua ông Đặng Xuân H1, bà Đặng Thị M là bố mẹ đẻ của anh H và niêm yết theo quy định. Anh H đã biết chị N yêu cầu ly hôn, nuôi con chung chưa thành niên nhưng hiện anh H vắng mặt, không có ý kiến gửi cho Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Xuân H1 và bà Đặng Thị M trình bày: Ông Đặng Xuân H1 và bà Đặng Thị M là bố mẹ đẻ của anh Đặng Văn H. Chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn H kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng anh H và chị N sống chung với gia đình ông bà. Năm 2022, anh Đặng Văn H đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Anh H thường xuyên liên lạc về với gia đình. Ông H1, bà M đã nhận được các văn bản của Toà án tuy nhiên ông bà không biết được địa chỉ của anh H nên không cung cấp được cho Toà án. Ông bà cũng đã thông báo cho anh H biết về việc chị N xin ly hôn với anh H và anh H không có ý kiến gì. Vợ chồng chị N và anh H có một con chung là cháu Đặng Xuân Q, sinh ngày 07/3/2017, hiện tại cháu Q đang ở với ông H1, bà M. Mọi chi phí học hành, ăn ở của cháu Q do anh H chu cấp. Ông bà không yêu cầu anh H và chị N thanh toán chi phí nuôi cháu. Việc giao cháu Đặng Văn Q1 cho ai trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc do Toà án quyết định.
Cháu Đặng Xuân Q trình bày: Cháu là con của mẹ Nguyễn Thị N và bố Đặng Văn H. Bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với bố. Trong thời gian bố Nguyễn Văn H2 đi nước ngoài, cháu muốn ở với ông bà nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về việc chấp hành pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn ở nước ngoài, thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ nên chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn H; giao con chung là cháu Đặng Xuân Q cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự chưa yêu cầu nên miễn xét. Quá trình giải quyết vụ án, do chưa có ý kiến của bị đơn nên dành quyền khởi kiện cho bị đơn khi có yêu cầu. Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 15560/QLXNC-P3 ngày 18/7/2024 của Cục Q2 và lời trình bày của ông Đặng Xuân H1 và bà Đặng Thị M là bố mẹ đẻ của anh Đặng Văn H thì có căn cứ xác định hiện nay anh H đang cư trú tại nước ngoài và vẫn liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh Đặng Văn H cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh H cho Tòa án. Do đó, việc anh Đặng Văn H vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đặng Văn H đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Nguyễn Thị N, ông Đặng Xuân H1, bà Đặng Thị M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Năm 2021, anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng không còn quan tâm đến nhau về vật chất lẫn tinh thần và không liên lạc với nhau. Nay, chị N thấy không còn tình cảm với anh H nên chị N làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Đặng Văn H. Tòa án đã thông báo cho anh H biết chị N xin ly hôn với anh H thông qua ông Đặng Xuân H1 và bà Đặng Thị M là bố mẹ đẻ của anh H nhưng anh H cũng không có ý kiến, không liên lạc với Tòa án thể hiện mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Do đó, xét thấy, cuộc hôn nhân của chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn H.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn H có một con chung là cháu Đặng Xuân Q, sinh ngày 07/3/2017, hiện đang ở với ông bà nội là ông Đặng Xuân H1 và bà Đặng Thị M. Nay ly hôn, chị N có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con; cháu Đặng Xuân Q có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội; ông H1, bà M đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Xét thấy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì quyền và nghĩa vụ nuôi con thuộc về bố mẹ. Hiện nay, chị N đang ở Việt Nam còn anh H không rõ địa chỉ cụ thể ở đâu nên để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung cần giao cháu Đặng Xuân Q cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Đặng Văn H chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5] Ông Đặng Xuân H1 và bà Đặng Thị M là người trực tiếp chăm sóc cháu Đặng Xuân Q nhưng ông bà không yêu cầu thanh toán chi phí chăm sóc cháu nên Tòa án không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Đặng Xuân Q, sinh ngày 07/3/2017 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Đặng Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị N chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012979 ngày 28/6/2024.
5. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Xuân H1 và bà Đặng Thị M có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Bị đơn anh Đặng Xuân H3 có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
|
CÁC HỘI THẨM |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Mai Khanh Trần Xuân T |
Nguyễn Thị Thu T1 |
5
6
Bản án số 384/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 384/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ Nguyễn Thị N-Đặng Văn H
