|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:384/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-12-2023 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Với thành phần HĐXX xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm
Ông Nguyễn Hữu Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân – Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Liêm – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý: 233/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2017/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Diệu H sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Anh Đỗ Văn D sinh năm 1970; nơi cư trú: Số nhà B nguyễn T, khu vực T, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Bùi Thị Thu H1 trình bày: Thông qua mai mối, chị và anh Đỗ Văn D quen viết tìm hiểu 01 năm. Sau đó, chị và anh Đỗ Văn D tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã A ngày 02/12/2013. Sau kết hôn vợ chồng ở chung nhà cha mẹ chồng tại T, N, A, Bình Định. Ngay khi về chung sống với anh D đã phát sinh mâu thuẫn do tuổi của hai vợ chồng cách nhau quá lớn dẫn đến bất đồng quan điểm từ quan hệ ứng xử trong gia đình, bạn bè, từ việc sinh hoạt vợ chồng nên thường xuyên kình cải, bất hòa. Đến cuối năm 2014, mâu thuẫn vợ chồng không dung hòa được nên cả hai chấm dứt cuộc sống chung đến nay. Từ đó đến nay, chị và anh D không liên lạc, trao đổi tìm cách hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Chị xác định không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này, nên yêu cầu ly hôn với anh D.
Quá trình chung sống chị và anh D chưa có con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tố tụng bị đơn anh Đỗ Văn D trình bày: Tìm hiểu một thời gian, anh và chị Bùi Thị Diệu H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã A ngày 02/12/2013. Kết hôn xong, vợ chồng anh ở chung nhà với cha mẹ anh tại A, Bình Định. Năm 2014, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tuổi của hai vợ chồng khác nhau quá xa nên suy nghĩa, cách ứng xử khác nhau dẫn đến bất đồng quan điểm thường xuyên kình cải, bất hòa. Vợ chồng tìm cách vun đắp hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng ngày một gay gắt nên cả hai chấm dứt cuộc sống chung đến nay. Từ đó đến nay, anh và chị H không ai quan tâm đến đời sống của nhau. Anh xác định không còn tình cảm với chị H nên thống nhất ly hôn.
Anh thống nhất lời khai của chị H là vợ chồng không có con chung.
Tài sản chung anh với chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thẩm phán trong quá trình thụ lý, xây dựng hồ sơ vụ án và Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã tuân thủ các trình tự tố tụng đúng theo quy định pháp luật.
+ Về nội dung: Cho chị Bùi Thị Diệu H ly hôn với anh Đỗ Văn D; chị H và anh D không có con chung nên không xét; tài sản chung giữa chị H và anh D tự thỏa thuận, không yêu cầu tranh chấp nên không xem xét; buộc chị H phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Bùi Thị Diệu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn D đang cư trú tại thị xã A, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Chị Bùi Thị Diệu H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải. Ngoài ra, chị Bùi Thị Diệu H và anh Đỗ Văn D đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh D.
[3] Chị Bùi Thị Diệu H và anh Đỗ Văn D tự nguyện đăng ký kết tại UBND phường N và được UBND phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 128 ngày 02 tháng 12 năm 2013 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
[4] Chị Bùi Thị Diệu H và anh Đỗ Văn D chung sống hòa thuận hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do tuổi của hai anh chị cách nhau quá xa nên quan điểm, suy nghĩ, cách ứng xử trong cuộc sống vợ chồng trái ngược nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, xung đột kình cải. Cả hai anh chị tìm mọi cách nhằm hàn gắn vun đắp tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng vì thế mà ngày một gay gắt, nên năm 2014 hai anh chị chấm dứt cuộc sống chung đến nay. Cả chị H và anh D đều xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể dung hòa được nên thống nhất ly hôn. Việc thuận tình ly hôn giữa chị H và anh D là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với thực trạng mâu thuẫn vợ chồng và phù hợp Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình nên ghi nhận.
[5] Chị Bùi Thị Diệu H và anh Đỗ Văn D xác định trong thời kỳ hôn nhân chưa có con chung.
[6] Về tài sản chung: Các bên không có tranh chấp nên không xem xét giải quyết.
[7] Án phí hôn nhân gia đình: Chị Bùi Thị Hiệu H2 phải chịu 300.000 đồng.
[8] Ý kiến của Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 264, Điều Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Diệu H và anh Đỗ Văn D
- Về quan hệ con chung: Chị Bùi Thị Diệu H và anh Đỗ Văn D xác định không có con chung.
- Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Diệu H và anh Đỗ Văn D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình: Chị Bùi Thị Diệu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001923 ngày 02 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lê Ngọc Quang |
Bản án số 384/2023/HNGĐ-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 384/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Bùi Thị Diệu Hiền và Nguyễn Văn Dũng
