TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 383/2024/DS-PT Ngày 30 tháng 8 năm 2024 V/v: “Tranh chấp QSD đất và tranh chấp HĐ CNQSD đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Phước Đại
Các Thẩm phán: Ông Trương Hoài Bình
Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 191/2024/TLPT-DS, ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 294/2024/QĐPT-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1952
- Bà Phạm Ngọc X, sinh năm 1954.
Cùng nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm: 1978 (Văn bản uỷ quyền ngày 10/6/2022) - Có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Lê Văn T, sinh năm 1950 (Vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1954. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Huynh Đ, sinh năm 1984;
Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Có mặt).
- Ông Lê Văn H, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1, sinh năm 1986 (Có mặt)
Nơi cư trú: ấp T, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Bà Trần Ngọc B, sinh năm 1973;
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chi nhánh văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P, thành phố Cần Thơ;
Địa chỉ: ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Văn phòng C1,
Địa chỉ: Lô A - 33 đường P, Khu dân cư T huyện P, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:
Năm 1999, ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Ngọc X nhận chuyển nhượng 01 phần đất trồng lúa có diện tích 2.738m² (đo đạc thức tế là 2.635,6m²) của bà Trần Ngọc B với giá 40 chỉ vàng 24K; phần đất thuộc thửa 828, tờ bản đồ số 05, loại đất lúa. Đất có nguồn gốc do bà B nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn T và bà Đỗ Thị C từ năm 1998. Việc chuyển nhượng đất của bà B sang ông P và bà X thì vợ chồng bà C ông T đều biết. Sau khi nhận chuyển nhượng đất từ bà B thì ông P và bà X giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa làm thủ tục sang tên tách thửa vì chưa đủ tiền và nghĩ là anh em ruột nên không sao. Khoảng 01 - 02 năm sau vợ chồng ông T, bà C mượn lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục vay tại ngân hàng lấy tiền cất nhà. Đến năm 2019, phía gia đình ông T mới giải chấp tại ngân hàng và lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc đó ông T, bà C có làm thủ tục tách đất cho con trai, thì nguyên đơn có yêu cầu ông T, bà C tách đất cho nguyên đơn, các bên đều thống nhất. Đến ngày 16/01/2020, ông T và bà C được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04025 đối với thửa 828. Nhưng sau đó, ông T và bà C lại không chuyển tên cho nguyên đơn mà lại ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất này cho bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 ngày 31/8/2020. Đến khoảng cuối năm 2020, trước dịch bệnh, bà C có nói với nguyên đơn là bà Đ1 kêu vợ chồng ông T đi chuộc đất do ông H đã thế chấp đất cho bà Đ1 vay tiền. Vợ chồng ông T không có tiền chuộc nên kêu nguyên đơn đi chuộc đất. Do bị lâm vào thế kẹt nên nguyên đơn có đi tìm bà Đ1 để thương lượng chuộc đất. Tuy nhiên, bà Đ1 yêu cầu giá chuộc đất là 500.000.000 đồng, nguyên đơn không có khả năng trả. Sau đó dịch bệnh đến có chỉ thị 15 nên nguyên đơn không liên lạc được với bà Đ1 để thương lượng. Đến tháng 4/2021, có chỉ thị 16 thì nguyên đơn khởi kiện ra UBND xã Tân Thới để tranh chấp phần đất này. Đến ngày 03/3/2022, bà Đ1 lại chuyển thửa 828 cho ông Trần Huynh Đ. Phần đất tranh chấp nguyên đơn đã sử dụng ổn định từ năm 1999 đến nay không ai tranh chấp. Vào năm 2018, ông P, bà X đã lên bờ trồng cây sầu riêng đến nay. Ông P và bà X khởi kiện yêu cầu:
- - Yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 31/8/2020 số công chứng 2345 tại văn phòng C1 giữa ông T, bà C và bà Đ1.
- - Yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/01/2022 số công chứng 303 tại Văn phòng C1 giữa bà Đ1 và ông Đ.
- - Yêu cầu hủy nội dung chỉnh lý và cơ sở pháp lý do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P xác nhận ngày 10/12/2021 chuyển đất tranh chấp sang tên bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 và phần chỉnh lý ngày 03/3/2022 chuyển tên phần đất tranh chấp sang cho ông Trần Huynh Đ.
- - Yêu cầu ông T và bà C phải làm thủ tục pháp lý sang tên toàn bộ phần đất mà ông P, bà X đã mua của ông T và bà C. Công nhận ông P và bà X được quyền sử dụng và quản lý phần đất có diện tích 2.635,6m² thuộc thửa 828, tờ bản đồ số 05, loại đất lúa (hiện nay đang đứng tên ông Trần Huynh Đ).
Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Văn T và bà Đỗ Thị C trình bày:
Thống nhất với phần trình bày của ông P và bà X. Vào năm 1998, vợ chồng ông có chuyển nhượng 01 phần đất ruộng cho bà B tại thửa 828. Sau đó bà B đã chuyển nhượng lại cho ông P và bà X. Nhưng do chưa có tiền nên khi sang nhượng vợ chồng ông P và bà X chưa làm thủ tục tách đất. Khi bán đất 02 bên không làm giấy tờ gì nhưng ông T có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho ông P. Thời gian sau, nhà nước có chủ trương cho mượn tiền để cất nhà nhưng phải thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T có mượn ông P lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền cất nhà. Do là anh em ruột nên ông P cũng đồng ý. Cuối năm 2019, ông T thống nhất với ông P làm thủ tục tách thửa 828 ra cho ông P đứng tên hợp pháp. Ông T và ông P đều đã lớn tuổi, không rành giấy tờ nên đã giao toàn bộ giấy tờ cho con trai ông T là Lê Văn H để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P. Khoảng ngày 31/8/2021, con trai của ông T và bà C là Lê Văn H có kêu vợ chồng ông ra Văn phòng công chứng Lê Tấn Q để ký giấy. Trước khi đi, H có nói với ông T và bà C là đã thuê dịch vụ 15.000.000 đồng để làm thủ tục tách đất cho ông P và dặn ông T và bà C đến văn phòng công chứng Lê Tấn Q cha mẹ cứ ký tên rồi đi về. Do tin tưởng con trai nên khi đến Văn phòng công chứng Lê Tấn Q, ông T và bà C cho rằng là đang ký giấy tờ làm thủ tục tách đất cho ông P nên đã ký tên mà không đọc lại nội dung Văn bản công chứng cũng không ai đọc cho ông bà nghe. Do đó, ông bà không biết nội dung trong hợp đồng là ký bán đất cho bà Đ1 mà nghĩ là ký sang tên đất cho ông P và bà X. Ông T và bà C thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông P và bà X.
Phần trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Lê Văn H: Thống nhất với phần trình bày của ông P, bà X, ông T, bà C. Thực chất hợp đồng chuyển nhượng số 2345 ngày 31/8/2020 tại Văn phòng C1 mà cha mẹ ông ký với bà Đ1 là nhằm mục đích đảm bảo cho ông H vay số tiền 200.000.000 đồng. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất này thì cha mẹ ông có hỏi ký gì. Ông H nói cha mẹ cứ ký đi, vay tiền chứ không có gì đâu. Cha mẹ tôi cũng không biết nội dung hợp đồng là chuyển nhượng thửa 828 cho bà Đ1. Sau khi ký hợp đồng thì 01 thời gian sau ông P và bà X mới biết và có yêu cầu chuộc lại đất. Ông H có liên hệ với bà Đ1 để trả tiền lấy lại đất nhưng lúc đó bà Đ1 nói đang dịch bà Đ1 bị kẹt ở Hà Nội không về được. Sau đó bà Đ1 chuyển nhượng đất cho ông Đ hồi nào ông H cũng không hay. Ông thừa nhận, ông có nói dối để cho cha mẹ ông ký tên vào Hợp đồng chuyển nhượng số 2345 ngày 31/8/2020 tại Văn phòng C1. Hiện nay ông H vẫn tìm cách liên hệ với bà Đ1 để trả tiền và lấy đất về nhưng bà Đ1 cố tình trốn tránh không gặp mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1: Trong đơn yêu cầu ngày 16/5/2023 bà Đ1 trình bày các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 31/8/2020 số công chứng 2345 tại Văn phòng C1 giữa ông T, bà C và bà Đ1 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/01/2022 số công chứng 303 tại Văn phòng C1 giữa bà Đ1 và ông Đ là đúng với quy định của pháp luật. Bà yêu cầu buộc ông T, bà C phải thực hiện đúng nội dung hợp đồng đã ký kết.
- - Ông Trần Huynh Đ: Phần đất tranh chấp ông nhận chuyển nhượng vào ngày 25/01/2022 từ bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 với giá thực tế là 650.000.000 đồng nhưng trên hợp đồng chỉ ghi là 270.000.000 đồng. Ông đã giao tiền đủ cho bà Đ1 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 03/3/2022. Khi giao cho bà Đ1 số tiền 650.000.000 đồng ông giao tiền mặt và không làm biên nhận. Thời điểm ông mua đất thì bà Đ1 không dẫn ông đi xem đất nhưng có cò đất dẫn đi xem nhưng cò đất không chỉ ranh đất. Lúc đó trên đất có trồng cây sầu riêng. Ông đoán sầu riêng cũng đã trồng được 02 - 03 năm. Cò đất có nói là cho người ta thuê trồng sầu riêng 06 năm (không nói rõ mốc thời gian) còn khoảng 03 năm nữa người thuê sẽ trả đất. Ông nghĩ đây là giao dịch giữa bà Đ1 và chủ thuê nên không để tâm và không tìm người thuê đất. Nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và bà Đ1 bị tuyên bố vô hiệu thì ông yêu cầu bà Đ1 phải trả ông 650.000.000 đồng không yêu cầu tính lãi.
- - Bà Trần Ngọc B: Vào khoảng năm 1997, bà có mua 02 công tầm lớn đất lúa của ông T và bà C. Tuy nhiên năm sau là năm 1998, bà sinh em bé nên không thể canh tác được vì vậy bà đã bán lại cho ông P và bà X với giá 40 chỉ vàng 24K. Bà B đã nhận đủ vàng và giao đất cho ông P và bà X canh tác ổn định từ năm 1998. Thời điểm đó bà nhận chuyển ngượng đất của ông T, bà C cũng chưa kịp sang tên giấy đất mà chỉ giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khi bà B bán đất cho ông P thì bà cũng giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính còn đứng tên ông T cho ông P. Giữa bà và ông T, ông P không lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chỉ giao dịch miệng.
- - Văn phòng công chứng Lê Tấn Q: Về trình tự, thủ tục công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 2345, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/8/2020 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 303, quyển số 01/2022/TP/CC- SCC/HĐGD ngày 25/01/2022 thì Văn phòng C1 - thành phố Cần Thơ đã thực hiện đúng quy định của Luật Công Chứng năm 2014.
- - Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P, thành phố Cần Thơ: Trình tự thủ tục chỉnh lý Giấy chứng nhận số CH04025 sang tên cho bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 ngày 10/12/2021 và Trình tự thủ tục chỉnh lý Giấy chứng nhận sang tên cho ông Trần Huynh Đ là đúng quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân quận huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Chấp nhận 01 phần yêu cầu độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Trần Huynh Đ.
- - Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 31/8/2020 số công chứng 2345 tại văn phòng C1 giữa ông Lê Văn T, bà Đỗ Thị C và bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/01/2022 số công chứng 303 tại Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 và ông Trần Huynh Đ vô hiệu.
- - Buộc ông Trần Huynh Đ có nghĩa vụ làm thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04025 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 16/01/2020, Chi nhánh văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P chỉnh lý sang tên ông Trần Huynh Đ ngày 03/03/2022 đối với diện tích 2.635,6m² thuộc thửa 828, tờ bản đồ số 05, loại đất 2L, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ lại cho ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Ngọc X. (Kèm theo Bản trích đo chính số 215, ngày 17/3/2023 của Sở TN&MT, thành phố Cần Thơ và Biên bản định giá tài sản ngày 20/12/2022).
- - Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 có nghĩa vụ trả cho ông Trần Huynh Đ số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng).
- - Đối với hậu quả khi Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký số 2345 ngày 31/8/2020 tại Văn phòng C1 giữa bà Đ1 và ông T, bà C vô hiệu, tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của các đương sự
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trong giai đoạn thi hành án, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 12/4/2014, ông Trần Huynh Đ kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với bà Đ1. Trường hợp không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố vô hiệu thì bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 phải trả lại ông phải trả ông 650.000.000 đồng tiền chuyển nhượng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn vẫn nguyên yêu cầu khởi kiện.
- - Ông Trần Huynh Đ giữ nguyên kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm và đề nghị:
Về tố tụng:
Hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo:
Đè nghị Hội đồng xét xử nghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Đ và bà Đ1 về việc bà Đ1 thống nhất trả lại cho ông Đ 550.000.000 đồng tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Đ và bà Đ1 là vô hiệu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của ông Đ; sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ và bà Đ1 có mặt, những người tham gia tố tụng còn lại vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập nhiều lần và một số đương sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng để chuyển nhượng. Chính vì vậy cấp sơ thẩm đã tuyên vô hiệu và giải quyết hậu quả vô hiệu là có căn cứ.
[3] Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn và bị đơn không kháng cáo. Ông Trần Huynh Đ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1. Trường hợp không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố vô hiệu thì bà Đ1 phải trả lại ông số tiền 650.000.000 đồng tiền chuyển nhượng.
[4] Xét kháng cáo của ông Đ thấy rằng:
[4.1] Về yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với bà Đ1: Do Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn là vô hiệu. Còn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ và bà Đ1 tại thời điểm chuyển nhượng thì đất chuyển nhượng là do nguyên đơn đang canh tác ổn định và ngay tình, ông Đ không tiến hành đo đạc lập thủ tục. Chính vì vậy, ông Đ không phải là người thứ ba ngay tình để được bảo vệ tại Điều 133 Bộ luật Dân sự. Do đó, cấp sơ thẩm tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/01/2022 số công chứng 303 tại Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 và ông Trần Huynh Đ vô hiệu là phù hợp.
[4.2] Về kháng cáo yêu cầu bà Đ1 trả lại 650.000.000 đồng tiền chuyển nhượng: Căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Đ với bà Đ1 thì giá trị chuyển nhượng là 270.000.000 đồng, ngoài ra không có bất kỳ chứng cứ nào khác để thể hiện giá trị 650.000.000 đồng như ông trình bày. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà Đ1 thừa nhận giá trị chuyển nhượng thật là 550.000.000 đồng, bà đã nhận 550.000.000 đồng của ông Đ và đồng ý trả lại cho ông Đ. Ông Đ thống nhất nhận lại 550.000.000 đồng như bà Đ1 thừa nhận và thống nhất hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và bà Đ1 là vô hiệu nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
[5] Án phí phúc thẩm: không ai phải chịu.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Huynh Đ. Sửa án sơ thẩm (do khách quan).
Áp dụng Điều 699, 701, 703 Bộ luật Dân sự 2005, Điều 122, 123, 127, 131, 166, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 170, 188 Luật Đất đai năm 2013;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Trần Huynh Đ.
- [1] Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 31/8/2020 số công chứng 2345 tại văn phòng C1 giữa ông Lê Văn T, bà Đỗ Thị C và bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/01/2022 số công chứng 303 tại Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 và ông Trần Huynh Đ vô hiệu.
- [2] Buộc ông Trần Huynh Đ có nghĩa vụ làm thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04025 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 16/01/2020, Chi nhánh văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P chỉnh lý sang tên ông Trần Huynh Đ ngày 03/03/2022 đối với diện tích 2.635,6m² thuộc thửa 828, tờ bản đồ số 05, loại đất 2L, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ lại cho ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Ngọc X. (Kèm theo Bản trích đo chính số 215, ngày 17/3/2023 của Sở TN&MT, thành phố Cần Thơ và Biên bản định giá tài sản ngày 20/12/2022).
- [3] Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 có nghĩa vụ trả cho ông Trần Huynh Đ số tiền 550.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- [4] Đối với hậu quả khi Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký số 2345 ngày 31/8/2020 tại Văn phòng C1 giữa bà Đ1 và ông T, bà C vô hiệu, tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của các đương sự
- [5] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ Đ1 phải nộp 27.500.000 đồng. Ông T, bà C được miễn án phí do là người cao tuổi. Trả lại cho ông Trần Huynh Đ 11.875.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007905 ngày 27/4/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
- [6] Chi phí đo đạc, định giá: Bị đơn phải nộp 8.871.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm xong, bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 8.871.000 đồng.
- [7] Án phí dân sự phúc thẩm: không ai phải chịu. Trả lại 300.000 đồng cho ông Đ theo Biên lai số 0006272 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
[8] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Phước Đại |
Bản án số 383/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 383/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Huynh Đệ. Sửa án sơ thẩm (do khách quan).
