Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 383/2024/HS-ST

Ngày: 29-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thành Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Phan Anh Dũng

Bà: Vương Thị Khánh Loan

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Lê Văn Thanh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:

ông Nguyễn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

----------

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 386/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 373/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Trường G, sinh năm: 1988 tại Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau; Nơi đang cư trú: không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tấn T, sinh năm: 1950 (đã chết) và bà Tô Thị L, không rõ năm sinh; Sống chung như vợ chồng với Trần Thị D, sinh năm: 1990; Có 01 con sinh năm: 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 15/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian chấp hành là 18 tháng, kể từ ngày 04/8/2022 (theo Quyết định số: 31/QĐTA); Bị bắt tạm giữ từ ngày 16 tháng 3 năm 2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

Người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: ông Phan Minh T1, sinh năm: 1974;

Địa chỉ: H, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo Lê Trường G có mặt, ông Phan Minh T1 vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Trường G và một người có tên là Hiếu T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có mối quan hệ quen biết. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/3/2024, T2 điều khiển xe môtô

biển số: 60L7-4870 chở G đi chơi. Khi đi đến trước nhà số: 71/152/24, tổ E, khu phố A, phường T, thành phố B thì T2 nhìn thấy 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade màu đen, biển số: 39F5-8267 của ông Phan Minh T1 đang dựng ngoài đường, trên xe có cắm sẵn chìa khóa và không có người trông coi nên T2 rủ G cùng lấy trộm. Thực hiện ý định trên, T2 dừng xe và giao xe môtô biển số: 60L7-4870 cho G điều khiển quay lại để T2 xuống, leo lên xe môtô của ông T1, bật khóa điện và điều khiển xe chạy đi. Lúc này, ông T1 phát hiện, đuổi theo truy hô nên T2 bỏ lại xe môtô biển số: 39F5-8267 và nhảy lên xe môtô biển số: 60L7-4870 do G điều khiển để bỏ chạy thì bị ông T1 cùng với những người dân xung quanh khống chế, bắt giữ được G, còn T2 chạy bộ trốn thoát.

Vật chứng trong vụ án:

- 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade màu đen, biển số: 39F5-8267 đã được Cơ quan điều tra giao trả lại cho ông Phan Minh T1.

- 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số: 60L7-4870, hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ và xử lý sau.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 76/KL-HĐĐGTS ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B đã kết luận: 01 xe môtô biển số: 39F5-8267 có giá trị định giá là 12.500.000đ (mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số: 390/CT-VKSBH ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Lê Trường G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Lê Trường G về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt Lê Trường G từ 10 tháng đến 01 năm tù.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa cho mình và cũng không yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu khác ngoài những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án ra xem xét tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên nên các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/3/2024, tại khu vực trước nhà số: 71/152/24, tổ E, khu phố A, phường T, thành phố B; Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của ông Phan Minh T1, Lê Trường G cùng với một người tên Hiếu T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã có hành vi chiếm đoạt 01 xe môtô nhãn hiệu Airblade màu đen, biển số: 39F5-8267 trị giá 12.500.000đ (mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng) của ông T1.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với những nội dung mà Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố.

Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ; làm mất an ninh, trật tự tại địa phương.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Không có.

[4]. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về quyết định hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo; căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cần có mức án nghiêm, tiếp tục cách ly ra khỏi xã hội một thời gian đối với bị cáo mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[6]. Về các vấn đề khác có liên quan:

  • - Đối với đối tượng tên Hiếu T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bỏ trốn, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ và sẽ xử lý sau.
  • - Về trách nhiệm dân sự: ông Phan Minh T1 đã nhận lại xe môtô nhãn hiệu Airblade, biển số: 39F5-8267 và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[7]. Về tiền án phí: bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Trường G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  • - Xử phạt: Lê Trường G 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 16 tháng 3 năm 2024.
  • - Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Lê Trường G phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

2. Bị cáo Lê Trường G được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Phan Minh T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Công an TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thành Tân

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 383/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 383/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù giam
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger