Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 383/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/05/2025
V/v: ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Lê Thị Huyền
Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 05 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 89/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐ-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025;

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy M, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Số B, ngõ A, đường L, phường B, quận T, thành phố Hà Nội. (có mặt)

Bị đơn: Anh Trần Ngọc A, sinh năm 1993. HKTT: KĐTM D, Y, H, Hà Nội. Địa chỉ: Tòa L, Tòa nhà X khu đô thị M, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu tiếp theo trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn – Chị Nguyễn Thúy M trình bày như sau:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thúy M và anh Trần Ngọc A tìm hiều tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 12/02/2019 tại Ủy ban nhân dân phường B, T, Hà Nội. Quá trình anh chị chung sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm sống. Chị M và anh Ngọc A ly thân từ tháng 7/2021, anh Ngọc A bỏ đi không hỏi han, không chăm lo và không chu cấp cho các con chung. Chị M về nhà bố mẹ và một mình chăm sóc nuôi hai con nhỏ cho đến bây giờ. Ban đầu, gia đình nhà anh Ngọc A có hỏi thăm nhưng sau đó không thấy nữa. Vì vậy, chị nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin ly hôn với anh Ngọc A để tạo dựng cuộc sống mới.

-Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Trần Bảo P, sinh ngày 12/6/2019 và cháu Trần Bảo P1 sinh ngày 13/5/2021. Ly hôn, chị Nguyễn Thúy M đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung vì lý do từ khi anh chị ly thân, một mình chị chăm sóc các cháu. Anh Ngọc A không thăm nom, không chu cấp nuôi các con. Do hai cháu còn nhỏ đang phát triển về tâm sinh lý, chị đang nuôi dạy các cháu ổn định, vì vậy chị đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con. Hiện nay, chị M đang làm nhân viên kinh doanh tại 02 công ty: công ty cổ phần T1 và công ty TNHH V1 thu nhập một tháng 22.000.000 đồng, bao gồm lương cơ bản và lương doanh thu hàng tháng. Chị M có nhà ở 4 tầng, diện tích mỗi sàn 60m2, nhà đứng tên bố mẹ đẻ chị M. Chị M có phương án nuôi con là: hàng ngày, chị là người đưa đón con đi học, chăm sóc con, nếu bận việc chị nhờ ông bà đưa đón hai cháu vì cả hai cháu đều học trường gần nhà, cách nhà khoảng 500m. Tối chị nấu cơm và dạy các con học bài. Chị Nguyễn Thúy M không yêu cầu anh Trần Ngọc A cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thúy M xác định chị và anh Trần Ngọc A không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn - anh Trần Ngọc A:

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần gửi văn bản tố tụng cho anh Ngọc A qua dịch vụ bưu chính nhưng báo phát không thành công do không liên lạc được với người nhận. Tại kết quả xác minh của Công an phường Y thể hiện anh Trần Ngọc A hiện đang sinh sống tại địa chỉ phòng C Tòa L, Tòa nhà X khu đô thị M, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án đã trực tiếp tống đạt các văn bản tố tụng tại địa chỉ nhà của anh Ngọc A: phòng C Tòa L, Tòa nhà X khu đô thị M, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội, do anh Trần Ngọc A không có nhà, ông Trần Nhật T là bố đẻ anh Ngọc A nhận các văn bản tố tụng thay cho anh Ngọc A và cam kết giao tận tay anh Ngọc A, đồng thời ông Đào Văn V là tổ trưởng tổ dân phố đã nhận văn bản tố tụng và xác nhận đã giao trực tiếp cho anh Ngọc A.

Tuy nhiên anh Trần Ngọc A không đến tham gia tố tụng tại Tòa án, không cung cấp ý kiến, lời khai, yêu cầu về việc giải quyết vụ án.

Tại biên bản xác minh tại tổ dân phố thể hiện: về tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng: tổ dân phố không nắm được. Về việc chị M xin ly hôn anh Ngọc A: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: anh chị có 02 con chung, đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: tổ dân phố không nắm được, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị Nguyễn Thúy M có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án.

- Anh Trần Ngọc A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án. Các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thúy M với anh Trần Ngọc A. Về con chung: giao cháu Trần Bảo P, sinh ngày 12/6/2019 và cháu Trần Bảo P1 sinh ngày 13/5/2021 cho chị Nguyễn Thúy M trực tiếp nuôi dưỡng, chị M không yêu cầu anh Ngọc A cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, công nợ chung: đề nghị giành quyền khởi kiện cho chị M và anh Ngọc A trong 01 vụ án khác nếu có yêu cầu. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thúy M có đơn xin ly hôn anh Trần Ngọc A, anh Ngọc A có địa chỉ cư trú tại: Tòa L, Tòa nhà X khu đô thị M, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội, vì vậy Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết vụ án theo thẩm quyền quy định tại khoản 3 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thúy M :

Chị Nguyễn Thúy M và anh Trần Ngọc A tìm hiều tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 12/02/2019 tại Ủy ban nhân dân phường B, T, Hà Nội. Quá trình anh chị chung sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm sống. Hai anh chị đã ly thân từ tháng 7/2021. Chị M về nhà bố mẹ đẻ và một mình chăm sóc nuôi hai con nhỏ cho đến nay. Ban đầu, gia đình nhà anh Ngọc A có hỏi han nhưng sau đó không thấy nữa. Vì vậy, chị M xác định hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin ly hôn với anh Ngọc A để tạo dựng cuộc sống mới.

Xét anh chị mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nguyện vọng ly hôn của chị M là chính đáng, cần chấp nhận.

-Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Trần Bảo P, sinh ngày 12/6/2019 và cháu Trần Bảo P1 sinh ngày 13/5/2021. Xét nguyện vọng nuôi con của chị M:

Từ khi anh chị ly thân, một mình chị M chăm sóc các cháu. Anh Ngọc A không thăm nom, không chu cấp nuôi các con. Do hai cháu còn nhỏ đang phát triển về tâm sinh lý, chị đang nuôi dạy các cháu ổn định. Về điều kiện nuôi con: Hiện nay, chị M đang làm nhân viên kinh doanh tại 02 công ty: công ty cổ phần T1 và công ty TNHH V1 thu nhập một tháng 22.000.000 đồng, bao gồm lương cơ bản và lương doanh thu hàng tháng. Chị M có nhà ở 4 tầng, diện tích mỗi sàn 60m2, nhà đứng tên bố mẹ đẻ chị M. Chị có phương án nuôi con, chăm sóc con cụ thể, có bố mẹ đẻ giúp đỡ nuôi con.

Anh Trần Ngọc A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng, không cung cấp lời khai, ý kiến, yêu cầu về con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, cần giao 02 con chung cho chị M nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh Trần Ngọc A cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản chung, nợ chung: chị M không yêu cầu tòa án giải quyết, anh Trần Ngọc A không có lời khai nên cần giành quyền khởi kiện cho chị M và anh Ngọc A trong 01 vụ án khác nếu có yêu cầu.

-Về án phí: chị Nguyễn Thúy M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 2 Điều 227 Điều 235, Điều 266, 271 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thúy M đối với anh Trần Ngọc A . Chị Nguyễn Thúy M được ly hôn anh Trần Ngọc A

- Về con chung: Chị Nguyễn Thúy M và anh Trần Ngọc A có 02 con chung là cháu Trần Bảo P, sinh ngày 12/6/2019 và cháu Trần Bảo P1 sinh ngày 13/5/2021. Giao hai con chung là cháu Trần Bảo P và cháu Trần Bảo P1 cho chị Nguyễn Thúy M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh Ngọc A cấp dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Trần Ngọc A được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung: giảnh quyền khởi kiện cho chị Nguyễn Thúy M và anh Trần Ngọc A trong 01 vụ án khác nếu có yêu cầu.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thúy M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0044815 ngày 17/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xác nhận chị Nguyễn Thúy M đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thúy M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Ngọc A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - UBND phường Yên Nghĩa.
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 383/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 383/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án My - Ngọc Anh (Hằng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger