Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 383/2025/HNGĐ-ST

Ngày 13 tháng 06 năm 2025

V/v: Xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hải Hà

2. Ông Trần Đức Lưu

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 157/2025/TLST – HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 04 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2025/QĐST-HPT ngày 28 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Kim N, sinh năm 1994;

HKTT: Số B ngõ I N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: P2430 Tòa B Masteri, Vinhomes S, T, N, Hà Nội. Chị N có mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Hà N1, sinh năm 1994;

HKTT: Số B ngõ I N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Anh N1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn – chị Ngô Thị Kim N trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Hoàng Hà N1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận B, thành phố Hà Nội ngày 15/7/2020, số giấy 57/2020. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống ở nhà bố mẹ chị tại địa chỉ số B ngõ I N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống với nhau đến cuối năm 2020 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Cuộc sống riêng của vợ chồng không hòa hợp. Anh chị đã không nói chuyện với nhau từ rất lâu. Từ năm 2020 đến nay, anh chị đã ly thân. Thời gian cũng quá lâu và không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng, vì vậy tình cảm ngày càng phai nhạt. Mâu thuẫn của anh chị, gia đình có biết nhưng không hàn gắn được cho anh chị.

Nay chị cảm thấy cuộc sống gia đình quá mệt mỏi, không còn sự gắn kết, yêu thương, quan tâm chăm sóc đến nhau. Chị cũng không còn tình cảm với anh N1. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh N1.

- Về con chung: Chị và anh N1 có 01 con chung là cháu Hoàng Quốc B, sinh ngày 06/9/2020. Từ khi sinh con, anh N1 không có trách nhiệm gì đối với cháu B, mọi việc chăm sóc cháu B đều do chị. Anh N1 không đóng góp gì vào việc nuôi con. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N1 đóng góp tiền nuôi con. Hiện tại chị đang làm kinh doanh bất động sản tại Vinhomes thu nhập bình quân khoảng 15.000.000 đồng/tháng. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con và cũng không yêu cầu anh N1 đóng góp nuôi con cho chị.

- Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị và anh N1 không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về các khoản vay nợ: Chị và anh N1 không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành lấy lời khai của bị đơn được và cũng không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.

* Tại biên bản ghi ý kiến ngày 17/4/2025, đại diện tổ dân phố số A, phường G, B, Hà Nội cung cấp: Về tình cảm, trước đây chị Ngô Thị Kim N và anh Hoàng Hà N1 kết hôn và ăn ở sinh sống tại địa chỉ số B ngõ I N, G, B, Hà Nội. Giữa chị N và anh N1 có mẫu thuẫn hay không, tổ dân phố không nắm được. Về con chung: Chị N và anh N1 có 01 con chung là cháu Hoàng Quốc B, sinh ngày 06/9/2020. Về tài sản chung và nhà ở của chị N và anh N1, tổ dân phố không nắm được. Về nợ chung của chị N và anh N1, tổ dân phố không nắm được.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/4/2025, bà Phạm Thúy A (là mẹ của chị Ngô Thị Kim N) trình bày: Con gái bà là Ngô Thị Kim N và anh Hoàng Hà N1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận B, thành phố Hà Nội vào tháng 7 năm 2020. Sau khi kết hôn chị N và anh N1 sống nhờ nhà bà tại địa chỉ số B ngõ I N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn được thời gian ngắn, bà thấy chị N và anh N1 có nhiều mâu thuẫn. Từ vài năm nay, chị N và anh N1 ngày càng mâu thuẫn. Mặc dù sống cùng nhà nhưng anh chị không trao đổi, chuyện trò với nhau và đã sống ly thân vài năm nay. Nay chị N xin ly hôn anh N1, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị N để chị N được ổn định cuộc sống. Về con chung: Chị N và anh N1 có 01 con chung là Hoàng Quốc B, sinh ngày 06/9/2020. Nay chị N xin được nuôi con chung, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị N. Về tài sản chung và các khoản nợ: Bà được biết chị N và anh N1 không có tài sản chung và không có nợ chung. Ngoài ra, bà không trình bày vấn đề gì khác.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ngô Thị Kim N; đề nghị xử cho chị Ngô Thị Kim N được ly hôn anh Hoàng Hà N1; Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Quốc B, sinh ngày 06/9/2020 cho chị Ngô Thị Kim N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Ngô Thị Kim N nộp đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Hoàng Hà N1. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Hoàng Hà N1 là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại số B ngõ I N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Về thủ tục giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với anh N1 theo quy định của pháp luật nhưng anh N1 vẫn không đến tham gia xét xử tại phiên tòa. Đây là lần thứ 2 anh N1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N1.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ và các chứng cứ do các đương sự cung cấp và các chứng cứ do Tòa án đã thu thập, có đủ cơ sở xác định: Chị Ngô Thị Kim N và anh Hoàng Hà N1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận B, thành phố Hà Nội ngày 15/7/2020, số giấy 57/2020. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo chị N trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng chị N, anh N1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống của hai người không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Từ năm 2020 đến nay, anh chị đã ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn của anh chị, gia đình có biết nhưng không hàn gắn được cho anh chị. Anh N1 không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, không có ý kiến đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Ngô Thị Kim N và anh Hoàng Hà N1 đã căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh N1 là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về việc nuôi con chung: Chị Ngô Thị Kim N xác nhận: Chị và anh Hoàng Hà N1 có 01 con chung là cháu Hoàng Quốc B, sinh ngày 06/9/2020. Khi ly hôn, chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N1 đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay thu nhập hàng tháng của chị N khoảng 15.000.000 đồng/tháng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của bố mẹ và cũng không làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con chung. Anh N1 không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Vì vậy, giao cháu Hoàng Quốc B cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định của pháp luật cũng như điều kiện của chị N.

[4] Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị Ngô Thị Kim N xác nhận chị và anh N1 không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về khoản nợ: Chị Ngô Thị Kim N xác nhận chị và anh N1 không có nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Ngô Thị Kim N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Kim N và anh Hoàng Hà N1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các căn cứ và nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 39 Bộ luật dân sự;

- Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ngô Thị Kim N.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị Kim N được ly hôn anh Hoàng Hà N1.

[3]. Về việc nuôi con chung: Chị Ngô Thị Kim N và anh Hoàng Hà N1 có 01 con chung là Hoàng Quốc B, sinh ngày 06/9/2020.

Giao cháu Hoàng Quốc B cho chị Ngô Thị Kim N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Hà N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Ngô Thị Kim N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho chị N bằng vụ kiện dân sự khác nếu chị N có yêu cầu.

[4]. Về tài sản chung và nhà ở chung (động sản và bất động sản): Tòa án không xem xét, giải quyết.

- Về các khoản nợ: Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Ngô Thị Kim N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo Biên lai thu số 0031267 ngày 20 tháng 03 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Ngô Thị Kim N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Hà N1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND p. Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 383/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn

  • Số bản án: 383/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án xin ly hôn giữa chị N và anh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger