|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN Bản án số: 382/2024/DS-PT Ngày: 26-8-2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi tài sản. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, về việc: “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 280/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số E, Ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973;
- Bà Biện Thị N, sinh năm 1977;
Cùng địa chỉ: Số E, Ấp C, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông H, bà N: Ông Lê Hùng M, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
(Theo Văn bản ủy quyền công chứng số 2816 ngày 23/7/2024 của Văn phòng C2, thị xã K, tỉnh Long An)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Q, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số E, Ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
- Ủy ban nhân dân thị xã K, tỉnh Long An. Địa chỉ: Số A, Đường C, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn V. Chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Dương Tuấn A. Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã K.
(Theo Văn bản số 20/UBND-TNMT ngày 09/01/2017 của UBND thị xã K về việc cử người tham gia tố tụng).
- Ông La Văn H1. Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã K.
(Theo Văn bản số 839/UBND-TNMT ngày 28/8/2017 của UBND thị xã K về việc cử người tham gia tố tụng).
- Ủy ban nhân dân xã T, thị xã K, tỉnh Long An;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Minh T. Chức vụ: Chủ tịch.
- Ông Biện Văn C, sinh năm 1982;
- Bà Lê Thị Mỹ H2, sinh năm 1984;
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26/9/2016 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Phạm Văn D trình bày: Năm 2001, ông Phạm Văn D vay của Ngân hàng Nông nghiệp huyện M số tiền 10.000.000 đồng, nhưng đến hạn không có trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng nên cầm cố 04 thửa đất tổng diện tích 15.994m², gồm: thửa số 90, diện tích 5.974m²; thửa số 159, diện tích 1.965m²; thửa số 160, diện tích 4.781m² và thửa số 161, diện tích 3.274m²; tờ bản đồ số 5, cùng loại đất trồng lúa, tại ấp B, xã T, huyện M (thị xã K) tỉnh Long An cho ông Nguyễn Văn H và bà Biện Thị N để vay số tiền 15.000.000 đồng. Ông đã giao đất và 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L235253 ngày 30/9/1997 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho ông Phạm Văn D cho ông H, bà N giữ. Khi cầm cố có làm hợp đồng cầm cố viết tay, không có công chứng, chứng thực và không thỏa thuận thời hạn cầm cố, thỏa thuận khi nào ông D trả lại 15.000.000 đồng thì ông H, bà N trả lại đất cho ông D, tiền lãi hợp đồng cầm cố là hoa lợi canh tác đất của ông D. Hợp đồng cầm cố chỉ được lập thành 01 bản viết tay, ông D có ký chữ thập vào hợp đồng (do ông D không biết chữ) và bản chính hợp đồng do ông H, bà N giữ.
Riêng thửa đất số 1344, diện tích 1.243m², tờ bản đồ số 6, loại đất T, tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An nằm chung trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L235253. Thửa đất 1344 ông D không cầm cố cho ông H, bà N và hiện nay ông D đang quản lý, sử dụng.
Tháng 02/2015, ông D đến gặp ông H, bà N để chuộc đất với giá 15.000.000 đồng nhưng ông H, bà N không đồng ý mà đề nghị chuộc với giá 200.000.000 đồng nên ông D làm đơn khiếu nại ra UBND xã T hòa giải ngày 01/7/2016 nhưng không thành. Khi hòa giải tại UBND xã thì ông D mới biết ông H, bà N đã làm giả hồ sơ, ký tên giả chữ ký ông D trong hợp đồng chuyển nhượng cho bà N thửa đất số 90, 161 và bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 434296. Hiện nay, ông H và bà N đang quản lý, canh tác các thửa đất số 90, 159, 160, 161 và giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L235253.
Ông D yêu cầu Tòa án buộc ông H, bà N trả lại tài sản cầm cố là thửa đất số 90, 159, 160, 161; tờ bản đồ số 5, cùng loại đất trồng lúa, tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An và trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L235253 ngày 30/9/1997 cho ông Phạm Văn D.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/12/2016 ông D yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R434296 ngày 07/6/2001 của Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho bà Biện Thị N tại thửa số 90, 161.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/12/2017, ông D yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 879 ngày 10/3/2004 do UBND xã T chứng thực giữa bà Biện Thị N và ông Biện Văn C tại thửa đất số 90.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 26/7/2018, ông D yêu cầu bà N và ông H trả lại thửa đất số 160, 161; yêu cầu ông Biện Văn C và bà Lê Thị Mỹ H2 trả lại thửa đất số 90; yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 88 ngày 30/3/2001 giữa bà Biện Thị N và ông Phạm Văn D do Ủy ban nhân dân xã T chứng thực tại thửa đất số 90, 161; hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 579 ngày 10/3/2004 giữa Biện Thị N và Biện Văn C được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 19/4/2004 tại thửa đất số 90; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 43296 ngày 07/6/2001 do UBND huyện M cấp cho bà Biện Thị N; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho ông Biện Văn C; yêu cầu bà N và ông H trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L235253 ngày 30/9/1997 cho ông Phạm Văn D.
Tại đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện ngày 10/5/2021, ông D xác định yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 88 ngày 30/3/2001 được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 05/4/2021 giữa ông Phạm Văn D với bà Biện Thị N tại thửa đất số 90, 161 do hợp đồng giả tạo về hình thức lẫn nội dung. Yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 579 ngày 10/3/2004 được UBND xã T chứng thực ngày 19/4/2004 giữa bà Biện Thị N với ông Biện Văn C tại thửa đất số 90. Yêu cầu Tòa án kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00668/QSDĐ/LA do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 07/6/2001 cho bà Biện Thị N; thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ070347 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 21/4/2004 cho ông Biện Văn C tại thửa đất số 90. Yêu cầu ông Nguyễn Văn H, bà biện Thị N1, ông Biện Văn C và bà Lê Thị Mỹ H2 trả lại cho ông D các thửa đất số 90, 160, 161. Yêu cầu bà Biện Thị N, ông Nguyễn Văn H trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L235253 ngày 30/9/1997 cho ông Phạm Văn D. Yêu cầu vô hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng TMCP P – Chi nhánh Đ (đã sát nhập vào Ngân hàng TMCP Đ1) với ông Biện Văn C, bà Lê Thị Mỹ H2 tại thửa đất số 90. Ông D đồng ý trả cho ông H, bà N số tiền 15.000.000 đồng.
Tại đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện ngày 29/6/2023, ông D rút lại yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng TMCP P – Chi nhánh Đ (đã sát nhập vào Ngân hàng TMCP Đ1) với ông Biện Văn C, bà Lê Thị Mỹ H2 tại thửa đất số 90.
Ông D không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông H và bà N.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Biện Thị N do người đại diện trình bày:
Năm 2001, vợ chồng ông D và bà Q có bán cho ông H, bà N số đất theo giấy chứng nhận số L235253, diện tích 15.994m², tại các thửa số thửa số 90, diện tích 5.974m²; thửa số 159, diện tích 1.965m²; thửa số 160, diện tích 4.781m² và thửa số 161, diện tích 3.274m²; tờ bản đồ số 5, cùng loại đất trồng lúa, tại ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Long An do ông D, bà Q thiếu nợ Ngân hàng Nông nghiệp nên phải bán đất để trả nợ nếu không Ngân hàng sẽ phát mãi đất.
Ông H, bà N và ông D thống nhất sang nhượng các thửa đất với giá 15.000.000 đồng. Ông H chở ông D ra Ngân hàng Nông nghiệp đưa cho ông D 7.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng và lấy giấy đỏ giao cho ông H tại Ngân hàng. Khi về nhà ông H có giao thêm cho vợ chồng ông D 8.000.000 đồng là đủ số tiền sang nhượng đất. Sau đó, ông H đến Ủy ban nhân dân xã T để làm thủ tục chuyển nhượng đất, nhưng cán bộ địa chính có hướng dẫn là Nhà nước có chủ trương không cho hộ hoặc cá nhân chuyển hết quyền sử dụng đất nên ông H và vợ chồng ông D thống nhất chuyển trước 02 thửa số 90 và 161, diện tích là 9.248m² cho bà N đứng tên; số diện tích còn lại khi nào có chủ trương mới sẽ chuyển tiếp. Sau khi chuyển nhượng đất thì ông H, bà N trực tiếp canh tác các thửa đất.
Ngày 21/4/2004, ông H, bà N chuyển quyền cho ông Biện Văn C thửa số 90 và hiện nay ông C đang quản lý, sử dụng. Đến năm 2012, ông H đến nhà ông D để yêu cầu chuyển tiếp các thửa đất còn lại thì ông D không đồng ý nên sự việc kéo dài đến hôm nay. Theo yêu cầu khởi kiện của ông D thì bà N và ông H không đồng ý.
Tại đơn phản tố ngày 01/9/2017, ông H, bà N yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn D phải chuyển nhượng thửa số 159, diện tích 1.965m² và thửa số 160, diện tích 4781m².
Tại đơn phản tố ngày 15/6/2019, ông H, bà N yêu cầu ông D và bà Q tiếp tục chuyển nhượng thửa đất số 160; còn thửa số 159 bị mất hết diện tích do múc kênh ông C1 nên không yêu cầu.
Tại đơn xác định lại yêu cầu phản tố ngày 29/11/2019 ông H và bà N yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 88 ngày 30/3/2001 được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 05/4/2021 giữa ông D với bà N tại thửa đất số 90, 161; yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận miệng) giữa ông D, bà Q với ông H và bà N tại thửa đất số 160.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Q trình bày: Bà Phan Thị Q và ông Phạm Văn D là vợ chồng, hôn nhân thực tế từ năm 1986, nhưng không có đăng ký kết hôn. Bà Q trình bày thống nhất như ý kiến của ông Phạm Văn D.
Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 10/9/2019 bà Q yêu cầu vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn D với bà Biện Thị N, ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 90, 159, 160, 161. Yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 88 ngày 30/3/2001 được UBND xã T chứng thực ngày 05/4/2021 giữa ông Phạm Văn D với bà Biện Thị N tại thửa đất số 90, 161 do hợp đồng giả tạo về hình thức lẫn nội dung. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00668/QSDĐ/LA do UBND huyện M cấp ngày 07/6/2001 cho bà Biện Thị N. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 579 ngày 10/3/2004 được UBND xã T chứng thực ngày 19/4/2004 giữa bà Biện Thị N với ông Biện Văn C tại thửa đất số 90. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ070347 do UBND huyện M cấp ngày 21/4/2004 cho ông Biện Văn C tại thửa đất số 90. Yêu cầu ông H, bà N, ông C và bà H2 trả lại cho ông D các thửa đất số 90, 160, 161. Yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng TMCP P – Chi nhánh Đ (đã sát nhập vào Ngân hàng TMCP Đ1) với ông Biện Văn C, bà Lê Thị Mỹ H2 tại thửa đất số 90.
Tại Đơn xin rút lại yêu cầu độc lập ngày 29/6/2023, bà Phan Thị Q rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập và thống nhất với lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D.
- Ủy ban nhân dân thị xã K do người đại diện theo ủy quyền có Văn bản số 86/CV-TNMT ngày 05/9/2017 trình bày: Ủy ban nhân dân thị xã K không đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R434296 do UBND huyện M cấp cho bà Biện Thị N với lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và bà Biện Thị N cũng đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật.
Thửa đất số 90, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã T, thị xã K hiện nay do ông Biện Văn C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Biện Văn C không lưu trữ tại Phòng T1 nên không thể cung cấp cho Tòa án.
- Ủy ban nhân dân xã T, thị xã K có Văn bản số 14/UBND ngày 12/6/2018 trình bày: Sau khi xem xét hồ sơ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 88 CN ngày 30/3/2001 tại UBND xã T. Xét thấy do thời gian quá lâu nên UBND xã không thể xác định rõ việc bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có ký tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Ủy ban xã hay không. Kính đề nghị Tòa án giám định chữ ký của hai bên để làm rõ vụ việc.
- Ông Biện Văn C và bà Lê Thị Mỹ H2 có Văn bản ngày 07/3/2022 trình bày: Ông Biện Văn C và bà Lê Thị Mỹ H2 là vợ chồng. Trước đây, ông C và bà H2 có mua của bà Biện Thị N thửa đất số 90, diện tích 5.974m² (đo đạc thực tế là 5.952m²), tờ bản đồ số 5, tại ấp C, xã T, huyện M và được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 070347 ngày 21/4/2004. Nguồn gốc thửa đất số 90 do bà N mua lại của ông Phạm Văn D và bà Phan Thị Q.
Năm 2016, ông D và bà Q khởi kiện yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông C với bà N thì ông C và bà H2 không đồng ý giao lại đất vì ông C và bà H2 mua đất ngay tình, có công chứng hợp đồng chuyển nhượng và trả tiền đầy đủ. Hiện nay, ông C và bà H2 đã thế chấp thửa đất số 90 cho Ngân hàng. Nếu Tòa án xét xử hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì yêu cầu trả lại giá trị đất thực tế để ông C và bà H2 mua đất khác.
Ông C và bà H2 đề nghị được vắng mặt trong các phiên hòa giải và xét xử vụ án đến khi kết thúc vụ án.
Sau khi thụ lý lại vụ án, Tòa án đã tiến hành mở các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên có mặt không thỏa thuận được với nhau.
Tại phiên tòa ngày 27/3/2024, ông D xác định chỉ yêu cầu ông H, bà N trả lại thửa số 160 và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H, bà N nhận cầm cố. Ông D rút lại các yêu cầu còn lại mà Tòa án đã thụ lý giải quyết.
Ông H, bà N rút lại yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 88 ngày 30/3/2001 tại thửa đất số 90, 161 và xác định không tranh chấp với ông D, bà Q tại thửa đất số 159 do thửa đất này đã làm kênh ông C1 không còn. Ông H, bà N yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận miệng) giữa ông D, bà Q với ông H và bà N tại một phần thửa đất số 160 theo diện tích đo đạc thực tế đang sử dụng; phần còn lại của thửa số 160 đã làm đường bờ kênh ông C1 nên ông H, bà N không tranh chấp với ông D.
Ông H, bà N đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D sau khi ông D chuyển quyền thửa đất số 160 cho ông H, bà N tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi làm thủ tục đăng ký đất đai.
Ông Ngô Minh T, ông Biện Văn C, bà Lê Thị Mỹ H2 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bà Phan Thị Q và người đại diện của UBND thị xã K văng mặt không lý do.
Ông D và người đại diện của ông H, bà N có mặt tại phiên tòa nhưng không thỏa thuận được với nhau về các nội dung tranh chấp trong vụ án.
Tại phiên tòa ngày 16/4/2024, ông D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Ông M vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu như đã trình bày tại phiên tòa ngày 27/3/2024.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường đã tuyên:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D đối với ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N về yêu cầu trả lại thửa đất số 90, 159,161, loại đất LUC, tờ bản đồ số 5, tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00668 ngày 07/6/2001 do UBND huyện M cấp cho bà Biện Thị N và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 00832 ngày 21/4/2004 do UBND huyện M cấp cho ông Biện Văn C. Ông Phạm Văn D không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N về yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 88 ngày 30/3/2001 tại thửa đất số 90, 161, tờ bản đồ số 5, loại đất LUC, tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D đối với ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N về yêu cầu trả lại tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N phải giao nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L235253 ngày 30/9/1997 do UBND huyện M cấp cho ông Phạm Văn D cho Cơ quan Đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền khi ông Phạm Văn D làm thủ tục đăng ký, kê khai, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1344 theo quy định pháp luật về đất đai.
Trường hợp, ông H, bà N không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Cơ quan Đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền thu hồi hoặc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N đối với ông Phạm Văn D về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận bằng lời nói) năm 2001 giữa ông Phạm Văn D, bà Phan Thị Q với bà Biện Thị N, ông Nguyễn Văn H tại thửa số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích: 4.781m², tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N được quyền sử dụng một phần thửa đất số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất LUC, diện tích: 3.070m², tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Vị trí, kích thước, hình thể của một phần thửa đất số 160 được xác định theo Mảnh trích đo địa chính số: 02-2018 ngày 25/01/2018 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thị xã K. (đính kèm)
Ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với Cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan Đăng ký đất đai có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký, kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Tòa án công nhận theo quy định của pháp luật về đất đai.
Cơ quan Đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Về chi phí tố tụng:
Ông Nguyễn Văn H và bà Biện Thị N phải liên đới chịu tiền chi phí tố tụng là 7.406.700 đồng. (đã nộp xong).
Ông Phạm Văn D phải chịu tiền chi phí tố tụng là 14.813.300 đồng. Buộc ông D phải nộp 5.693.300 đồng để trả lại cho ông H, bà N tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 5.693.300 đồng.
- Về án phí sơ thẩm:
Ông Phạm Văn D phải chịu 16.922.000 đồng; chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số: 0001493 ngày 26/7/2018; 6.198.000 đồng theo Biên lai thu số 0006227 ngày 13/10/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An và 900.000 đồng theo Biên lai thu số: 0000637 ngày 04/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An sang thi hành án phí. Buộc ông Phạm Văn D phải nộp tiếp số tiền 9.524.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N phải liên đới chịu 300.000 đồng; khấu trừ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm do ông H, bà N nộp là 5.050.000 đồng theo Biên lai thu số: 0009837 ngày 07/9/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An sang thi hành án phí. Ông H, bà N được hoàn trả lại 4.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí còn thừa.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 21/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị đối với một phần bản án số 14/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm theo hướng sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm và cách tuyên án.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An giữ nguyên kháng nghị; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về chấp hành pháp luật:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án. Người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Văn D yêu cầu ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N phải trả lại thửa đất 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích 4.781m² tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Thấy rằng trong vụ án này nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại thửa đất số 160 nên Tòa án chỉ cần xem xét phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ai để có cơ sở chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N phải trả lại thửa đất 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích 4.781m² tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An, không cần thiết phải xem xét giá trị quyền sử dụng đất. Do đó, cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để tính án phí, theo đó ông D chỉ phải chịu án phí theo mức án phí không có giá nghạch là 300.000 đồng. Bản án sơ thẩm buộc ông D phải chịu án phí có giá ngạch là 16.622.000 đồng là không đúng quy định, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H, bà N yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận miệng) giữa ông D, bà Q với ông H và bà N tại một phần thửa đất số 160 theo diện tích đo đạc thực tế đang sử dụng.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 02-2018 ngày 25/01/2018 thì phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa số 160, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.070m² (phần còn lại của thửa số 160 là một phần đường bờ kênh ông C1). Tuy nhiên, phần quyết định tuyên: “Công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận bằng lời nói) năm 2001 giữa ông Phạm Văn D, bà Phan Thị Q với bà Biện Thị N, ông Nguyễn Văn H tại thửa số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích: 4.781m², tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.” là chưa phù hợp.
Ngoài ra, ông D có yêu cầu ông H, bà N trả lại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích đo đạc thực tế là 3.070m² tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Bản án sơ thẩm nhận định không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D nhưng trong phần quyết định của bản án không tuyên “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D về việc yêu cầu ông H, bà N trả lại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích đo đạc thực tế là 3.070m² tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An” là thiếu sót.
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa án phí sơ thẩm và cách tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đúng quy định tại các Điều 278, 279 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và có đơn đề nghị vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xử vắng mặt đương sự.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An giữ nguyên kháng nghị.
[4] Về nội dung vụ án: Xét kháng nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An nhận thấy:
[4.1] Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn D yêu cầu ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N phải trả lại thửa đất 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích 4.781m² tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Thấy rằng trong vụ án này nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại thửa đất số 160 nên Tòa án chỉ cần xem xét phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ai để có cơ sở chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N phải trả lại thửa đất 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích 4.781m² tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An, không ai yêu cầu hoàn giá trị quyền sử dụng đất. Do đó, cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để tính án phí, theo đó ông D chỉ phải chịu án phí theo mức án phí không có giá nghạch là 300.000 đồng. Bản án sơ thẩm buộc ông D phải chịu án phí có giá ngạch là 16.622.000 đồng là không đúng quy định, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D.
[4.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H, bà N yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận miệng) giữa ông D, bà Q với ông H và bà N tại một phần thửa đất số 160 theo diện tích đo đạc thực tế đang sử dụng. Theo Mảnh trích đo địa chính số 02-2018 ngày 25/01/2018 thì phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa số 160, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.070m² (phần còn lại của thửa số 160 là một phần đường bờ kênh ông C1). Tuy nhiên, phần quyết định cấp sơ thẩm tuyên: “Công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận bằng lời nói) năm 2001 giữa ông Phạm Văn D, bà Phan Thị Q với bà Biện Thị N, ông Nguyễn Văn H tại thửa số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích: 4.781m², tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.” là chưa phù hợp nên cần sửa cách tuyên cho phù hợp, cụ thể: “Công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận bằng lời nói) năm 2001 giữa ông Phạm Văn D, bà Phan Thị Q với bà Biện Thị N, ông Nguyễn Văn H tại một thửa số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích: 3.070m², tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
[4.3] Ngoài ra, bản án sơ thẩm nhận định không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D nhưng trong phần quyết định của bản án không tuyên “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D về việc yêu cầu ông H, bà N trả lại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích đo đạc thực tế là 3.070m² tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An” là thiếu sót cần sửa cách tuyên.
Vì vậy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long là có căn cứ nên căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường về án phí và cách tuyên án. Các nội dung khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành. Lời phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An về án phí và cách tuyên án.
Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 157, 165, 228, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 129, khoản 1 Điều 164, Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D đối với ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N về yêu cầu trả lại thửa đất số 90, 159,161, loại đất LUC, tờ bản đồ số 5, tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 00668 ngày 07/6/2001 do UBND huyện M cấp cho bà Biện Thị N và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 00832 ngày 21/4/2004 do UBND huyện M cấp cho ông Biện Văn C. Ông Phạm Văn D không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N về yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 88 ngày 30/3/2001 tại thửa đất số 90, 161, tờ bản đồ số 5, loại đất LUC, tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D đối với ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N về yêu cầu trả lại tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N phải giao nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L235253 ngày 30/9/1997 do UBND huyện M cấp cho ông Phạm Văn D cho Cơ quan Đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền khi ông Phạm Văn D làm thủ tục đăng ký, kê khai, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1344 theo quy định pháp luật về đất đai.
Trường hợp, ông H, bà N không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Cơ quan Đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền thu hồi hoặc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N đối với ông Phạm Văn D về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Công nhận hiệu lực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thỏa thuận bằng lời nói) năm 2001 giữa ông Phạm Văn D, bà Phan Thị Q với bà Biện Thị N, ông Nguyễn Văn H tại một phần thửa số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích: 4.781m², tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N được quyền sử dụng một phần thửa đất số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất LUC, diện tích: 3.070m², tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn D về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N trả lại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa, diện tích đo đạc thực tế là 3.070m² tại xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
Vị trí, kích thước, hình thể của một phần thửa đất số 160 được xác định theo Mảnh trích đo địa chính số: 02-2018 ngày 25/01/2018, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thị xã K.
Ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với C3, Cơ quan đăng ký đất đai có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký, kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Tòa án công nhận theo quy định của pháp luật về đất đai.
Cơ quan Đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Về chi phí tố tụng:
Ông Nguyễn Văn H và bà Biện Thị N phải liên đới chịu 7.406.700 đồng. (đã nộp xong).
Ông Phạm Văn D phải chịu 14.813.300 đồng. Buộc ông D phải nộp 5.693.300 đồng để trả lại cho ông H, bà N tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 5.693.300 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Văn D phải chịu 300.000 đồng; chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001493 ngày 26/7/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An. Ông Phạm Văn D được hoàn lại tiền tạm ứng án phí là 6.198.000 đồng theo Biên lai thu số 0006227 ngày 13/10/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An và 900.000 đồng theo Biên lai thu số 0000637 ngày 04/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Văn H, bà Biện Thị N phải liên đới chịu 300.000 đồng; khấu trừ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm do ông H, bà N nộp là 5.050.000 đồng theo Biên lai thu số 0009837 ngày 07/9/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An sang thi hành án phí. Ông H, bà N được hoàn trả lại 4.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí còn thừa.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hữu Nghĩa |
Bản án số 382/2024/DS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi tài sản
- Số bản án: 382/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D
