TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 382/2025/HS-ST
Ngày 12 - 6 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đinh Quốc Trí |
| Thẩm phán: | Ông Trương Thành Trung |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Hồ Phong |
| Ông Triệu Quang Định | |
| Ông Lê Ngọc Thắng. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 154/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 327/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Vũ Tuấn A, sinh năm 1977; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ A, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vũ Xuân T và con bà: Nguyễn Thị M; Vợ: Tạ Thị H (đã ly hôn); Con: Có 02 con; lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố H; Có mặt.
Bị hại: Anh Lê Sỹ V, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số nhà I, ngách A T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Minh T1 - Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2005, anh Lê Sỹ V quen biết với Vũ Tuấn A làm việc tại cửa hàng mua bán ô tô cũ ở số nhà A, đường L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Tháng 09/2022, do có ý định chiếm đoạt tiền của anh V nên Tuấn A nói với anh V là có các mối xe ô tô hạng sang đã qua sử dụng giá rẻ, hứa hẹn khi bán sẽ lãi cao và rủ anh V chung vốn đầu tư. Tin tưởng thông tin do Tuấn A đưa ra nên trong thời gian từ ngày 19/9/2022 đến ngày 04/10/2022, anh V đã 05 lần đưa cho Tuấn A tồng số tiền 4.600.000.000 đồng để chung vốn làm ăn. Sau khi nhận tiền của anh V thì Tuấn A đã tắt máy điện thoại và trốn sang Trung Quốc. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất:
Ngày 19/9/2022, Vũ Tuấn A đi đến quán C ở khu vực thành phố G, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Tại đây, Tuấn A gọi điện thoại rủ bạn là anh Phạm Đức G (sinh năm 1981; trú tại Phòng A, phường D, quận C, thành phố Hà Nội) đến uống cà phê, đồng thời gọi điện thoại rủ anh V đến để thỏa thuận góp vốn đầu tư mua bán xe ô tô cũ. Tuấn A giới thiệu với anh V là đang có chiếc xe ô tô Mercedes - S450 Luxury, biển kiểm soát 30G-632.60, chủ xe bán với giá 3.950.000.000 đồng, nhưng có thể bán lại với giá 4.250.000.000 đồng, nếu không góp vốn sớm để mua thì sẽ bị người khác mua trước. Do tin tưởng nên anh V không kiểm tra giấy tờ của chiếc xe ô tô trên mà đồng ý góp vốn 2.000.000.000 đồng. Anh V đã chuyển tiền cho Tuấn A qua Internet Banking từ tài khoản số 8200199999999 của anh V mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M1) đến tài khoản số 0510103228989 của Tuấn A tại Ngân hàng M1, gồm:
- Lần một: Hồi 14h20 phút ngày 19/9/2022, anh V chuyển khoản 1.000.000.000 đồng, với nội dung “Le Sy V1 chuyen khoan mua xe S450”. Sau khi nhận được khoản tiền nêu trên, Vũ Tuấn A chuyển khoản 600.000.000 đồng đến tài khoản số 10320736001015 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 (T4) và chuyển khoản 400.000.000 đồng đến tài khoản số 19026569161169 mở tại Ngân hàng T4 (đều mang tên Vũ Tuấn A).
Ngày 21/9/2022, anh V soạn thảo mẫu “Văn bản đề xuất đầu tư” giữa anh V với Tuấn A và gửi cho Tuấn A qua Zalo. Tuấn A đã in mẫu ra và viết nội dung theo mẫu về việc anh V đề xuất góp vốn mua chiếc xe có Giấy chứng nhận đăng ký số 754271 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 16/10/2020, tên chủ xe là Công ty cổ phần T5; xe có số máy 682431108356, số khung 6GX1LV003114, màu sơn đen, biển kiểm soát 30G-632.60; giá mua dự kiến 3.950.000.000 đồng, giá bán dự kiến 4.250.000.000 đồng, thời gian dự kiến là 45 ngày. Số tiền bên A (Tuấn A) đề xuất bên B (anh V) góp vốn đầu tư: 2.000.000.000 đồng; tỷ lệ lợi nhuận 07%. Sau khi điền thông tin trên, Tuấn A chụp ảnh gửi cho anh V qua Z để anh V ký và chụp ảnh lại gửi cho Tuấn A qua Z.
- Lần hai: Hồi 14h40 phút ngày 22/9/2022, anh V chuyển khoản 700.000.000 đồng cho Tuấn A, với nội dung “Le Sy V1 chuyen khoan mua xe S450”. Sau khi nhận được tiền, Tuấn A đã chuyển số tiền trên đến tài khoản số 19026569161169 của Tuấn A mở tại Ngân hàng T4.
- Lần ba: Hồi 09h59 phút ngày 23/9/2022, anh V chuyển khoản 300.000.000 đồng cho Tuấn A, với nội dung “Le Sy V1 chuyen khoan mua xe S450”. Sau khi nhận được tiền, Tuấn A đã chuyển khoản 300.000.000 đồng đến tài khoản số 19026569161169 của Tuấn A mở tại Ngân hàng T4.
Kết quả điều tra xác định: Ngày 13/10/2020, Công ty cổ phần T5 và dữ liệu thanh toán An Du (Công ty T5) ở số A, đường P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội mua chiếc xe ô tô hiệu Mercedes - S450 Luxury, số máy 682431108356, số khung 6GX1LV003114 của Công ty TNHH M2 ở số nhà F, đường Q, phường H, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 16/10/2020, Phòng C - Công an thành phố H cấp biển kiểm soát 30G-632.60 cho chiếc xe ô tô trên; tên chủ xe là Công ty T5. Ngày 08/06/2022, Công ty T5 đã bán thanh lý chiếc xe ô tô trên cho Công ty TNHH G1 ở số nhà B, ngách B, ngõ Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội (Công ty G1, do ông Nguyễn Thế T2 sinh năm 1979; trú tại số nhà D, lô E T, tổ D, phường Q, quận H là Giám đốc) nhưng ông T2 không làm thủ tục sang tên. Thời gian sau đó, ông T2 đã nhiều lần mua đi, bán lại chiếc xe trên và lần cuối cùng ông T2 đã bán chiếc xe cho anh Trịnh Thái A1 (sinh năm 1995; trú tại số nhà A, dãy B, ngõ A, phố Đ, quận B, thành phố Hà Nội). Ngày 03/02/2023, chiếc xe trên đã được sang tên chủ xe là anh Trịnh Thái A1.
Đối với anh Phạm Đức G, là người cùng Tuấn A và anh V ngồi uống cà phê tại quán C ở khu vực thành phố G, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Kết quả điều tra xác định anh G chỉ chứng kiến việc Tuấn A và anh V thỏa thuận góp vốn mua chiếc xe ô tô hiệu Mercedes - S450 đã qua sử dụng, còn cụ thể như thế nào thì anh G không biết. Anh G không bàn bạc và không biết việc Tuấn A lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh V nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Vụ thứ hai:
Khoảng 17h00 ngày 22/9/2022, Tuấn A viết sau đó chụp ảnh gửi qua Z cho anh V nội dung Văn bản đề xuất đầu tư đối với chiếc xe ô tô hiệu Mercedes-GLC300, biển kiểm soát 30E-692.80, có số máy 2749203864362, số khung GV001308, màu sơn bạc, giấy chứng nhận đăng ký số 185703 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 26/01/2021, tên chủ xe Vũ Đức D; giá mua dự kiến là 1.130.000.000 đồng, giá bán dự kiến 1.320.000.000 đồng, thời gian dự kiến là 45 ngày; số tiền bên A (Tuấn A) đề xuất bên B (anh V) góp vốn đầu tư là 600.000.000 đồng; tỷ lệ lợi nhuận 50%. Anh V đồng ý góp chung vốn đầu tư. Ngày 23/9/2022, anh V đã chuyển khoản số tiền 600.000.000 đồng từ tài khoản số 8200199999999 của anh V mở tại Ngân hàng MB đến tài khoản số 0510103228989 của Tuấn A mở tại Ngân hàng M3, với nội dung: “L mua xe GLC 300, 30E-692.80”. Sau khi nhận được số tiền trên, Tuấn A đã chuyển hết sang tài khoản số 19026569161169 của Tuấn A mở tại Ngân hàng T4.
Kết quả điều tra xác định: Ngày 30/12/2016, ông Nguyễn Việt K (sinh năm 1960; trú tại P, tập thể K, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội) mua chiếc xe ô tô hiệu Mercedes - GLC300, có số máy 2749203864362, số khung GV001308, màu sơn bạc của Công ty T5. Ngày 06/01/2017, Phòng C - Công an thành phố H cấp biển kiểm soát 30E-692.80. Ngày 21/01/2021, ông K cho ông Vũ Đức D (sinh năm 1960; trú tại số nhà A, ngách H, ngõ A xóm L, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) mượn chiếc xe trên nhưng làm thủ tục bán để ông Vũ Đức D làm thủ tục sang tên, thuận tiện khi sử dụng. Ngày 26/01/2021, chiếc xe trên đã được sang tên chủ xe là Vũ Đức D. Ngày 12/9/2022, ông K bán xe trên cho ông Vũ Văn D1 (sinh năm 1970; trú tại số nhà D, đường L, tổ C, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội) nhưng ông Vũ Văn D1 không làm thủ tục sang tên và trưng bày tại cửa hàng Ô ở số nhà H, đường L, tổ C, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Vụ thứ ba:
Cùng ngày 22/9/2022, Tuấn A viết sau đó chụp ảnh gửi qua Z cho anh V nội dung Văn bản đề xuất đầu tư đối với chiếc xe ô tô hiệu Lexus-LX570, biển kiểm soát 30E-458.64, có số máy 3UR3034503, số khung 00W094021868, màu sơn đen, giấy chứng nhận đăng ký số 385254 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 30/11/2016, tên chủ xe Hoàng Trọng N (không có thông tin địa chỉ, số điện thoại); giá mua dự kiến là 1.700.000.000 đồng, giá bán dự kiến là 1.950.000.000 đồng, thời gian dự kiến là 45 ngày; số tiền bên A (Tuấn A) đề xuất bên B (anh V) góp vốn đầu tư là 1.000.000.000 đồng; tỷ lệ lợi nhuận bên A, bên B 60%. Anh V đồng ý chung tiền đầu tư. Ngày 23/9/2022, anh V chuyển khoản 1.000.000.000 đồng từ tài khoản số 8200199999999 của anh V mở tại Ngân hàng đến tài khoản số 0510103228989 của Tuấn A mở tại Ngân hàng MB với nội dung “Le Sy V1 chuyen khoan mua xe Lexus 570-30E-458.64”.. Sau khi nhận được số tiền trên, Tuấn A đã chuyển khoản hết đến tài khoản số 19026569161169 của Tuấn A mở tại Ngân hàng T4.
Khoảng đầu tháng 10/2022, anh V kiểm tra thông tin chiếc xe Lexus-LX570, biển kiểm soát 30E-458.64 thấy biển kiểm soát là của chiếc xe ô tô hiệu Nissan nên gọi điện thoại cho Tuấn A yêu cầu kiểm tra lại. Tuấn A sợ anh V phát hiện việc lừa đảo nên ngày 03/10/2022 đã thông báo cho anh V qua Z là bán được chiếc xe trên và chuyển khoản trả cho anh V 1.000.000.000 đồng tiền gốc và 65.000.000 đồng tiền lãi.
Tài liệu điều tra xác định: Ngày 28/11/2016, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H cấp biển kiểm soát 30E-458.64 cho xe ô tô hiệu Nissan màu ghi, có số máy EL3-896241, số khung 039728; tên chủ xe là Đỗ Công Đ (sinh năm 1975; trú tại xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội).
Vụ thứ tư:
Cuối tháng 09/2022, anh Lê Minh T3 (sinh năm 1975, nhà ở phường Y, quận H, thành phố Hà Nội) nhờ Tuấn A bán hộ chiếc xe ô tô hiệu Toyota - Lan Cruiser, biển kiểm soát 30H-570.39, có số máy V35A0060370, số khung JTMAB7BJ004022960, màu sơn trắng.
Khoảng 13h00 ngày 01/10/2022, Tuấn A tự viết rồi chụp ảnh gửi qua Z cho anh V nội dung Văn bản đề xuất đầu tư đối với chiếc xe ô tô hiệu Toyota - Lan Cruiser, biển kiểm soát 30H-570.39, số máy V35A0060370, số khung JTMAB7BJ004022960, màu sơn trắng, giấy chứng nhận đăng ký số 010087 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 21/02/2022; tên chủ xe là Công ty cổ phần T6; giá mua dự kiến là 5.350.000.000 đồng, giá bán dự kiến là 5.780.000.000 đồng, thời gian dự kiến là 45 ngày; số tiền bên A (Vũ Tuấn A) đề xuất bên B (Lê Sỹ V) góp vốn đầu tư là 2.500.000.000 đồng; tỷ lệ lợi nhuận bên A, bên B 50%. Anh V đồng ý nhưng chỉ góp vốn đầu tư 400.000.000 đồng. Ngày 03/10/2022, anh V chuyển 400.000.000 đồng từ tài khoản số 8200199999999 mở tại Ngân hàng M3 đến tài khoản số 0510103228989 của Tuấn A mở tại Ngân hàng M3, với nội dung “Le Sy Vinh chuyen khoan mua xe Land Cruiser, 30H-570.39". Sau khi nhận được khoản tiền trên, Tuấn A đã chuyển tiếp đến tài khoản số 19026569161169 mở tại Ngân hàng T4.
Kết quả điều tra xác định: Ngày 28/11/2016, Phòng C - Công an thành phố H cấp biển kiểm soát 30H-570.39 cho xe ô tô hiệu Toyota - Lan Cruiser màu trắng, có số máy V35A0060370, số khung JTMAB7BJ004022960; tên chủ xe là Công ty cổ phần T6 (địa chỉ tại U, khu đô thị M, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội). Ngày 11/01/2023, Công ty cổ phần T6 đã bán chiếc xe trên cho Công ty TNHH P (địa chỉ tại số nhà C, đường T, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng).
Vụ thứ năm:
Khoảng 11h00 ngày 04/10/2022, Tuấn A tự viết rồi chụp ảnh gửi qua Z cho anh V nội dung Văn bản đề xuất đầu tư đối với chiếc xe ô tô hiệu Toyota - Land Cruiser, biển kiểm soát 30G-821.59, có số máy 1UR0858200, số khung JTMX05J00421052, màu sơn trắng, giấy chứng nhận đăng ký số 001439 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 06/01/2021, tên chủ xe là Công ty cổ phần Đ1; giá mua dự kiến là 4.400.000.000 đồng, giá bán dự kiến là 4.750.000.000 đồng, thời gian dự kiến là 45 ngày; số tiền bên A (Tuấn A) đề xuất bên B (anh V) góp vốn đầu tư là 1.000.000.000 đồng; tỷ lệ lợi nhuận bên A, bên B 75%. Anh V đồng ý góp vốn đầu tư 600.000.000 đồng. Khoảng 12h40 phút cùng ngày, anh V chuyển 600.000.000 đồng từ tài khoản số 8200199999999 mở tại Ngân hàng M3 đến tài khoản số 0510103228989 của Tuấn A mở tại Ngân hàng M3, với nội dung "Le Sy Vinh chuyen khoan mua xe Land Cruiser, 30G-821.59”. Sau khi nhận được số tiền trên, Tuấn A đã chuyển tiếp đến tài khoản số 19026569161169 của Tuấn A mở tại Ngân hàng T4.
Tài liệu điều tra xác định: Ngày 31/12/2020, Công ty cổ phần Đ1 (địa chỉ tại số nhà, phố H, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội) mua chiếc xe ô tô hiệu Toyota Land Cruiser, có số máy 1UR0858200, số khung JTMX05J00421052, màu sơn trắng của Công ty TNHH T7 (địa chỉ tại số nhà G - I, đường N, tổ A, phường G, quận L, thành phố Hà Nội). Ngày 05/01/2021, Công ty cổ phần Đ1 được Phòng C - Công an thành phố H cấp biển kiểm soát 30G-821.59.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Vũ Tuấn A khai nhận đã chiếm đoạt của anh Lê Văn S tổng số tiền là 3.600.000.000 đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân và trả nợ hết. Do Tuấn A không nhớ đã trả nợ cho những ai nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, thu hồi số tiền trên.
Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng do anh Lê Sỹ V giao nộp gồm: 01 Hợp đồng hợp tác đầu tư (bản gốc), bên thứ nhất đứng tên Vũ Tuấn A (SN: 1977, CCCD: [...]), bên thứ hai đứng tên Lê Sỹ V (SN: 1978, CCCD [...]) về việc thỏa thuận góp vốn mua bán xe ô tô cũ đã qua sử dụng, có ký, điểm chỉ giữa hai bên vào ngày 20/09/2022 cùng 05 bản phô tô văn bản đề xuất đầu tư người đề xuất Vũ Tuấn A các ngày 21/9/2022, 22/9/2022, 01/10/2022, 04/10/2022 và 01 tập hình ảnh tin nhắn được anh V chụp ảnh từ điện thoại có nội dung tin nhắn giữa anh V và Vũ Tuấn A (từ số 01 đến số E).
Tại bản Kết luận giám định số 4459/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K2 - Công an thành phố H, kết luận: “...Chữ ký chữ viết dòng họ tên Vũ Tuấn A dưới mục “BÊN THỨ NHẤT” trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ ký, chữ viết dòng họ tên Vũ Tuấn A dưới mục “CHỦ TÀI KHOẢN” trên mẫu so sánh ký hiệu M là chữ do cùng một người ký và viết ra...”.
Trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra vụ án, anh Lê Sỹ V yêu cầu Tuấn A phải bồi thường số tiền 3.600.000.000 đồng và đề nghị xử lý Tuấn A theo pháp luật. Hiện bị cáo chưa bồi thường cho anh V.
Tại bản cáo trạng số: 119/CT-VKSHN-P2 ngày 04/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Vũ Tuấn A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo Vũ Tuấn A tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị tòa áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Tuấn A từ 14 năm tù đến 15 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Vũ Tuấn A phải bồi thường cho anh Lê Sỹ V số tiền 3.535.000.000 đồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận như sau: Tôi không có ý kiến về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã viện dẫn đối với bị cáo. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải; đã bồi thường một phần cho người bị hại; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an thành phố H, điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Lời khai của Vũ Tuấn A tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Do có ý định chiếm đoạt tiền của anh Lê Sỹ V nên tháng 09/2022, Vũ Tuấn A đã đưa ra các thông tin gian dối với anh V là có các mối xe ô tô hạng sang đã qua sử dụng, giá rẻ và hứa hẹn khi bán sẽ lãi cao và rủ anh V góp vốn đầu tư chung. Do tin tưởng các thông tin Tuấn A đưa ra là thật nên từ ngày 19/9/2022 đến ngày 04/10/2022, anh V đã nhiều lần chuyển khoản cho Tuấn A tổng số tiền là 4.600.000.000 đồng để chung vốn mua xe ô tô rồi bán lại kiếm lời. Trong đó có 01 lần do anh V phát hiện ra thông tin không đúng nên Tuấn A nói dối là đã bán được xe và trả lại cho anh V số tiền 1.065.000.000 đồng, còn chiếm đoạt của anh V số tiền 3.535.000.000 đồng, bị cáo sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Vũ Tuấn A theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Tuấn A là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù, bị cáo đã trả anh V số tiền 1.065.000.000 đồng nhưng đây không phải là tiền bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại mà là thủ đoạn của bị cáo phải trả số tiền trên để tránh việc bị hại phát hiện hành vi gian dối của mình nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo phạm tội nhiều lần, chiếm đoạt số tiền lớn, đến nay chưa trả cho bị hại nên cần xử phạt bị cáo nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn để áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, còn phải bồi thường một số tiền lớn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Vũ Tuấn A đã chiếm đoạt 4.600.000.000 đồng của anh Lê Sỹ V, bị cáo đã trả lại anh V số tiền 1.065.000.000 đồng nên buộc bị cáo phải bồi thường số tiền còn chiếm đoạt là 3.535.000.000 đồng cho anh V.
Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án dân sự, Hội đồng xét xử xác định: người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Người phải thi hành án dân sự về nghĩa vụ trả tiền phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo các Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bị cáo Vũ Tuấn A phải chịu án phí sơ thẩm theo điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Tuấn A phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Tuấn A: 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/9/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Vũ Tuấn A phải bồi thường số tiền 3.535.000.000 đồng (ba tỷ, năm trăm ba mươi lăm triệu đồng) cho anh Lê Sỹ Vĩnh .
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Vũ Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 102.700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - TAND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND TP. Hà Nội;
- - Công an TP. Hà Nội;
- - Cục thi hành án dân sự TP. Hà Nội;
- - Bị cáo; bị hại; người bào chữa;
- - Trại tạm giam - Công an TP. Hà Nội;
- - Lưu hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
ĐỊNH QUỐC TRÍ |
Bản án số 382/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 382/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
