Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 382/2024/DS-ST

Ngày: 20/6/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phước Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Hữu Phước

Ông Lê Đình Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang- Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 596/2023/TLST–DS ngày 22 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2024/QÐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 180/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S, địa chỉ: Lầu H, 2 N, Phường V, Quận C, Tp ..
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; địa chỉ: Số B N, Phường V, Quận C, Tp . (Văn bản ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)

    Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Nhật Kinh K; địa chỉ: Số B N, Phường V, Quận C, Tp . (Văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024)

  3. Bị đơn: Ông Trần Phước H, sinh năm 1986; địa chỉ: 1 Â, Phường I, quận T, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/11/2023, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và lời khai của người đại theo ủy quyền trình bày:

Ngày 21/11/2018, ông Trần Phước H đã ký với Ngân hàng TMCP S (Gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và phụ lục hợp đồng, bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp cho ông H thẻ tín dụng số 472075-7434 với hạn mức 30.000.000đ, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 82.574.000đ, đã thanh toán 65.351.388đ. Một thời gian sau, ông H không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 23/4/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông H và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 05/7/2023, ông H còn nợ: 79.599.405đ, gồm: nợ gốc: 32.624.540đ, lãi quá hạn: 46.974.865₫.

Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu, không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới, Ngân hàng vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ của thẻ tín dụng nêu trên, thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi trả xong số nợ trên.

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn do ông Nguyễn Nhật K1 K là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 21/11/2018 và thu nhập của ông H, Ngân hàng đã cấp cho ông H thẻ tín dụng số 472075-7434 với hạn mức 30.000.000đ. Thời gian đầu sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Đ, tuy nhiên đến hạn thanh toán ngày 22/02/2020 ông H không thanh toán nữa nên ngày 23/4/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Theo sao kê thẻ tín dụng, ngày 22/6/2022 ông H thanh toán 2.000.000₫ sau đó không thanh toán nữa, Ngân hàng đã trừ số tiền này vào nợ gốc cho ông H. Tính đến ngày 20/6/2024, ông H còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc: 32.624.540đ, nợ lãi: 60.521.710đ, tổng cộng: 93.146.250đ.

Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ như trên, thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, ngoài ra bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh kể từ 21/6/2024 theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi trả xong số nợ trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng, trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án Thẩm Phán, Hội đồng xét xử, đương sự đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn có nơi cư trú tại quận T nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về nơi cư trú của đương sự: Xét Đơn khởi kiện, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/11/2018, nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ cư trú của bị đơn tại số A Â, Phường I, quận T, Tp ..

Tại kết quả xác minh của Công an P, quận T đã cung cấp thông tin: “Đương sự Trần Phước H, SN 1986, HKTT: 1 Á, Phường I, quận T. Hiện không thực tế cư trú tại địa phương do nhà đã bán”.

Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.”

Ông H đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo, do đó có cơ sở xác định địa chỉ 1 Â, Phường I, quận T là nơi cư trú cuối cùng của ông H. Tòa án nhân dân đã tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng tại địa chỉ trên là phù hợp với quy định tại các điều 177 và 179 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự có mặt của đương sự: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng và không có người đại diện tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự đã được xem xét tại phiên tòa đã đủ cơ sở xác định:

Ngày 21/11/2018, Ngân hàng TMCP S và ông Trần Phước H đã ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và phụ lục kèm theo, hạn mức tín dụng: 30.000.000đ, mục đích tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng có hình thức và nội dung phù hợp với các điều 401, 402, 405 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia hợp đồng.

Tại bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện nhiều giao dịch với số tiền 82.574.000đ và thanh toán cho Ngân hàng với tổng số tiền 65.351.388đ. Lần cuối cùng ông H thanh toán cho Ngân hàng là ngày 22/01/2020 với số tiền 2.700.000đ, đến ngày 22/6/2022 ông H thanh toán tiếp với số tiền 2.000.000₫.

[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu trả nợ gốc và lãi:

Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/11/2018 và tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp đã đủ cơ sở xác định ông H đã sử dụng thẻ tín dụng thực hiện nhiều giao dịch và vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và yêu cầu bị đơn thanh toán tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh là phù hợp với thỏa thuận đã quy định tại Điều 2, Điều 20, Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kèm theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/11/2018; Quyết định số 02399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 về ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam.

Ngày 23/4/2020, toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông H đã bị chuyển sang nợ quá hạn. Ngày 22/6/2022, ông H thanh toán tiếp với số tiền 2.000.000đ. Căn cứ Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, “việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí, lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí, lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ”. Ngân hàng không trừ số tiền ông H đã thanh toán ngày 22/6/2022 vào các khoản phí, lãi của kỳ trước theo thứ tự nêu trên mà trừ vào nợ gốc là có lợi cho ông H, nên có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ khoản 1, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụngđịnh: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.

Căn cứ khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi. Cụ thể: Nợ gốc: 32.624.540đ (Ba mươi triệu sáu trăm hai mươi bốn ngàn năm trăm bốn mươi đồng), nợ lãi: 60.521.710đ (Sáu mươi triệu năm trăm hai mươi mốt ngàn bảy trăm mười đồng), tổng cộng: 93.146.250₫ (Chín mươi ba triệu một trăm bốn mươi sáu ngàn hai trăm năm mươi đồng).

Xét việc bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên cần buộc bị đơn thanh toán toàn bộ số nợ trên ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong dứt nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông H vắng mặt không lý do chính đáng, cũng không đưa ra phản hồi hay chứng cứ nào để chứng minh cho quan điểm của mình. Vì vậy, ông H phải chịu hậu quả pháp lý đối với sự vắng mặt của mình.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do có nghĩa vụ thanh toán nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các điều 280; 463; 466 của Bộ luật dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
  2. Buộc ông Trần Phước H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ bao gồm:

    Nợ gốc: 32.624.540đ (Ba mươi triệu sáu trăm hai mươi bốn ngàn năm trăm bốn mươi đồng), nợ lãi: 60.521.710đ (Sáu mươi triệu năm trăm hai mươi mốt ngàn bảy trăm mười đồng), tổng cộng: 93.146.250₫ (Chín mươi ba triệu một trăm bốn mươi sáu ngàn hai trăm năm mươi đồng).

  3. Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Phước H phải chịu 4.657.313đ (Bốn triệu sáu trăm năm mươi bảy ngàn ba trăm mười ba đồng).
  6. H1 lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 1.989.985đ (Một triệu chín trăm tám mươi chín ngàn chín trăm tám mươi lăm đồng) theo Biên lai thu số 0024285 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Tp ..
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án.
  9. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND QTB;
  • - Chi cục THADS QTB;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Phước Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 382/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 382/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Sacombank-Hau
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger