Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 382/2024/DS-PT

Ngày: 30 -5 -2024

V/v Tranh chấp lối đi chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp lối đi chung”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1829/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2693/2024/QĐPT ngày 06 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Nguyễn Đình Kim K. Địa chỉ: D Đường số G, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
    2. Ông Hàn Thọ N. Địa chỉ: xã A, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
    3. Bà Tạ Thị Thanh X. Địa chỉ: 1 Đường số E, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của các ông (bà) K, T, X: Ông Hoàng Tiến T1. Địa chỉ: số E Đường D, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

  2. Bị đơn: Bà Đàm Thị B, chết năm 2021. Địa chỉ: 4 Đường số G, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà B:

    1. Bà Nguyễn Thị Y. Địa chỉ: 101/40/27/18 tổ B, ấp D, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh,
    2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Á. Địa chỉ: Gerhart Hauptmann S, Đ.
    3. Ông Nguyễn Minh T2. Địa chỉ: 3 Đường số F, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
    4. Ông Nguyễn Thanh S. Địa chỉ: 3 Đường số F, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
    5. Ông Nguyễn Tuấn K1. Địa chỉ: 9 Đường số I, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
    6. Bà Nguyễn Lê Hoài T3 (con của ông Nguyễn Tuấn K2). Địa chỉ: 7 đường A, khu phố A, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
    7. Ông Nguyễn Thới L. Địa chỉ: 4 Đường số G, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo ủy quyền của các ông (bà) Y, Á, T2, S, K1, T3: Ông Nguyễn Thới L, địa chỉ: 4 Đường số G, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt) và bà Phạm Thị Thu T4, địa chỉ: I K, khu phố A, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

    Người nhận ủy quyền của ông Nguyễn Thới L, bà Phạm Thị Thu T4: ông Nguyễn Đắc L1. Địa chỉ: KV T, xã N, thị xã A, Bình Định (có mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Quang K3 (xin xét xử vắng mặt)
    2. Bà Trần Thị Thu T5 (xin xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: B Đường số D, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Người có kháng cáo: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn - ông Nguyễn Thới L

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn – các ông (bà) Nguyễn Đình Kim K, Hàn Thọ N, Tạ Thị Thanh X cùng ủy quyền cho ông Hoàng Tiến T1 đại diện trình bày:

Bà Nguyễn Đình Kim K là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 609, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM485746 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH02358) ngày 29/10/2018 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Thu T5 và ông Nguyễn Quang K3, đã thay đổi chủ sở hữu tặng cho bà Nguyễn Đình Kim K vào ngày 16/12/2019.

Ông Hàn Thọ N là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 613, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO910517 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH02482) ngày 01/11/2019 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Thu T5 và ông Nguyễn Quang K3, đã thay đổi chủ sở hữu chuyển nhượng cho ông Hàn Thọ N vào ngày 10/7/2020.

Bà Tạ Thị Thanh X là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 612, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO910516 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH02481) ngày 01/11/2019 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Thu T5 và ông Nguyễn Quang K3, đã thay đổi chủ sở hữu chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Thanh X vào ngày 28/11/2019.

Trước đây bà Trần Thị Thu T5 (mẹ bà Nguyễn Đình Kim K) và bà Đàm Thị B có thoả thuận sử dụng diện tích đất 123,2 m² (ngang 3,2m x dài 11 m + ngang 4m x dài 22m), tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh làm lối đi chung. Bà T5 có thanh toán cho bà B số tiền 180.000.000 đồng (ba người con của bà B là ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Minh T2 và ông Nguyễn Thới L là người nhận tiền) để sử dụng chung lối đi này. Trên Giấy chứng nhận của 03 nguyên đơn đều thể hiện có lối đi xi măng. Tuy nhiên, ngày 30/9/2020 gia đình bà B tự ý kéo hàng rào B40 rào bít lối đi. Việc làm này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau:

  • Yêu cầu công nhận diện tích đất 124,9m² thuộc các thửa đất số 609-1, 30-1, 39-1, 29-1, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là lối đi chung theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 12/7/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
  • Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với diện tích đất làm lối đi chung nói trên.

Bị đơn - bà Đàm Thị B (đã chết) có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là các ông (bà): Nguyễn Thới L, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Tuấn K1, Nguyễn Lê Hoài T3, Nguyễn Thị Ngọc Á, các ông (bà) Nguyễn Thị Y, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Tuấn K1, Nguyễn Lê Hoài T3 cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Thới L thống nhất trình bày:

Nguồn gốc phần đất lối đi đang tranh chấp với nguyên đơn có nguồn gốc là của bà Đàm Thị B, hiện nay gia đình bị đơn sử dụng lối đi này để đi vào khu đất thổ mộ của gia đình, không phải lối đi công cộng của nhà nước. Trước đây, gia đình chỉ đồng ý cho bà K tạm mượn để tiện việc sửa chữa nhà của bà K, chứ không có giao dịch mua bán gì với bà K. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các ông (bà) trên không đồng ý, đề nghị Tòa án làm rõ nguồn gốc của phần lối đi đang tranh chấp, ông L không tranh chấp gì đối với việc cam kết nhường lối đi chung với bà Trần Thị Thu T5.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Thu T5 và ông Nguyễn Quang K3 có văn bản thống nhất trình bày: Phần diện tích đất là lối đi chung đang tranh chấp trước kia ông bà có đàm phán với gia đình bà B, các con là ông S, ông T2, ông L đã nhận 180.000.000 đồng (ông L nhận 150.000.000 đồng, còn lại ông S và ông T2 nhận) và làm tờ cam kết về việc để cho gia đình bà T5 sử dụng làm lối đi chung. Từ cam kết này, bà T5 đã hợp thức hóa, tách thửa, phân lô và chuyển nhượng phần đất của bà T5 và ông K3 cho những người khác, đến nay không ai tranh chấp. Ông K3 và bà T5 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và xin vắng mặt.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1829/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Công nhận diện tích đất 124,9m² thuộc các thửa đất số 609-1, 30-1, 39-1, 29-1, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là lối đi chung theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 12/7/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là các ông (bà) Nguyễn Thới L, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Tuấn K1, Nguyễn Lê Hoài T3, Nguyễn Thị Ngọc Á phải chấm dứt hành vi cản trở đối với nguyên đơn về việc sử dụng diện tích lối đi chung trên.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 26/9/2023, người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là ông Nguyễn Thới L kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn với lý do: lối đi đang tranh chấp không phải là lối đi chung mà là lối đi nội bộ của gia đình do bà Đàm Thị B tự lập, có xin phép của chính quyền địa phương, sử dụng vào lối đi riêng vào khu đất thổ mộ của gia tộc.

* Tại phiên tòa phúc thẩm

Đại diện theo ủy quyền của những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trình bày: Trong tổng diện tích lối đi 124,9 m² mà Tòa án cấp sơ thẩm xác định, bà B chỉ tranh chấp phần diện tích 86 m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND quận T (nay là UBND thành phố T) và UBND phường L vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thiếu sót về tố tụng, không giải quyết triệt để vụ án. Phần diện tích lối đi riêng 86 m² thuộc quyền sử dụng của bà B. Việc gia đình bà T5 căn cứ vào giấy cam kết không có chữ ký của bà B để xác định diện tích đất của bà T5 có lối đi chung ra đường công cộng, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi riêng của bà B là không đủ căn cứ pháp lý.

Nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: Các nguyên đơn không đồng ý với ý kiến của đại diện bị đơn, các nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu đề nghị Tòa án buộc các bị đơn phải chấm dứt việc cản trở các nguyên đơn sử dụng toàn bộ diện tích đất sử dụng làm lối đi chung 124,9 m². Phần diện tích lối đi trước đây thuộc quyền sử dụng của gia đình các bị đơn, gia đình bị đơn đã có văn bản đồng ý cho bà Trần Thị Thu T5 (mẹ bà K) được sử dụng, đồng ý cho bà T5 kê khai quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất của bà T5, các nguyên đơn đều là những người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà T5 hợp pháp nên được sử dụng lối đi này. Các bị đơn phải có nghĩa vụ chấm dứt mọi hành vi cản trở, tháo dỡ hàng rào dây thép, cột bê tông, trả lại nguyên trạng lối đi này cho các nguyên đơn sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự liên quan đến thủ tục giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận và thực tế quản lý sử dụng các các bên. Ông L kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận. Phía bị đơn cản trở lối đi chung của nguyên đơn bằng việc dựng hàng rào thép, cột bê tông là trái pháp luật, cần buộc các bị đơn chấm dứt hành vi cản trở, trả lại nguyên trạng lối đi cho các nguyên đơn nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thới L làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – các ông (bà) Nguyễn Quang K3, Trần Thị Thu T5 có đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

[2] Về nội dung:

Diện tích đất 124,9 m² thuộc các thửa đất số 609-1, 30-1, 39-1, 29-1, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh hiện là lối đi theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 12/7/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của ông L xác định bà B chỉ tranh chấp 86 m² thuộc quyền sử dụng của bà B bị xác định là lối đi chung. Tuy nhiên, các nguyên đơn có yêu cầu Tòa án buộc phía bị đơn chấm dứt hành vi cản trở của phía bị đơn đối với việc sử dụng toàn bộ diện tích lối đi chung và công nhận lối đi chung có diện tích 124,9 m². Căn cứ vào hiện trạng thực tế đã được đo đạc, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết yêu cầu của các nguyên đơn với toàn bộ 124,9 m² nêu trên trong việc xác định lối đi chung, buộc các bị đơn chấm dứt toàn bộ hành vi cản trở việc sử dụng lối đi chung là phù hợp.

Trong vụ án này, các đương sự tranh chấp việc công nhận và sử dụng lối đi chung, không có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên việc đưa Ủy ban nhân dân thành phố T và Ủy ban nhân dân phường L vào tham gia tố tụng là không cần thiết, đồng thời, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã thu thập đầy đủ ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương về thông tin của các diện tích đất có liên quan nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của ông L1, bà T5 (đại diện của ông L và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn) về nội dung này.

Xét thấy, ngày 26/9/2018, giữa bà Trần Thị Thu T5 với gia đình bà Đàm Thị B có xác lập Giấy cam kết về việc cho sử dụng lối đi (gồm các ông Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Thới L – con bà Đàm Thị B), có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường L, nội dung: “Chúng tôi thống nhất ý kiến các thành viên trong gia đình và đồng ý cho bà Trần Thị Thu T5 được sử dụng lối đi nội bộ của gia đình (là lối đi bên hông nhà số D Đường số G) tiếp giáp với thửa đất số 30 tờ 07 do mẹ tôi là Đàm Thị B đăng ký sử dụng và mẹ tôi bỏ đất ra làm lối đi... Nay mẹ chúng tôi là Đàm Thị B đã già yếu, không có khả năng thực hiện việc ký cam kết và xác nhận chữ ký theo quy định. Do đó nay chúng tôi làm đơn này cam kết và đồng ý để cho bà Trần Thị Thu T5 được phép trổ cửa đi chính ra hướng lối đi chung, để ra đường số G và đồng ý cho bà T5 được cấp giấy chứng nhận với khuôn viên bà đang sử dụng. Chúng tôi cam kết không tranh chấp hay khiếu nại gì về sau, nếu sau này có gì sai trái chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật”.

Để thực hiện cam kết trên, ông L là con của bà B đã nhận của bà T5 150.000.000 đồng, ông S và ông T2 nhận 30.000.000 đồng. Tại Biên bản hòa giải tranh chấp, phản ánh, kiến nghị ngày 08/10/2020 và Thông báo hòa giải không thành số 213/TB-UBND ngày 12/10/2020 của Ủy ban nhân dân phường L, T, ông L là con của bà B xác nhận có nhận của bà T5 số tiền 150.000.000 đồng này. Trong khi đó, theo Biên bản định giá tài sản ngày 23/8/2023 (BL 276) thì diện tích đất tranh chấp có giá trị là 186.120.000 đồng.

Ngày 29/10/2018, Ủy ban nhân dân quận T (nay là thành phố T) đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM485746 thuộc thửa 609, tờ bản đồ số 7, nhà số D Đường số G, khu phố E, phường L cho ông Nguyễn Quang K3, bà Trần Thị Thu T5. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM485746 ngày 29/10/2018 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 171 Luật Đất đai 2013.

Ông K3 và bà T5 đã tặng cho bà Nguyễn Đình Kim K một phần diện tích đất. Hiện nay, bà K là chủ sử dụng thửa đất số 609, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM485746 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH02358) ngày 29/10/2018 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Thu T5 và ông Nguyễn Quang K3, đã thay đổi chủ sở hữu tặng cho bà Nguyễn Đình Kim K vào ngày 16/12/2019.

Ông K3 và bà T5 chuyển nhượng cho ông Hàn T6 Nhật Tân một phần diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO910517 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH02482) ngày 01/11/2019 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Thu T5 và ông Nguyễn Quang K3, đã thay đổi chủ sở hữu chuyển nhượng cho ông Hàn T6 Nhật Tân vào ngày 10/7/2020;

Ông K3 và bà T5 đã chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Thanh X một phần diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO910516 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH02481) ngày 01/11/2019 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Thu T5 và ông Nguyễn Quang K3, đã thay đổi chủ sở hữu chuyển nhượng cho bà Tạ Thị Thanh X vào ngày 28/11/2019.

Các giao dịch tặng cho và chuyển nhượng trên đều thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về diện tích, hiện trạng phần đất đang tranh chấp đều thể hiện trên Giấy chứng nhận của các ông (bà) Nguyễn Đình Kim K, Hàn Thọ N, Tạ Thị Thanh X là hẻm xi măng và là lối đi chung. Theo quy định tại Điều 158, 160, 161 Bộ luật Dân sự 2015, các nguyên đơn là người xác lập quyền sở hữu thông qua các hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng được pháp luật công nhận nên họ được hưởng tất cả các quyền mà trước đây bà T5 và ông K3 được hưởng.

Ngoài 03 căn nhà trên của 03 nguyên đơn, theo Biên bản xác minh ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (BL 272) thì hiện nay còn một số căn nhà khác cũng đồng thời sử dụng phần đất đang tranh chấp để làm lối đi như: 03 nhà cùng mang số D Đường số G khu phố E, phường L; nhà số D Đường số G, khu phố E, phường L và cổng phụ nhà D Đường số G, khu phố E, phường L. Tuy nhiên do các nhà trên cũng như phía bị đơn không tranh chấp nên Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người này tham gia tố tụng là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của ông L cũng xác định gia đình ông Nguyễn Thới L, bà Nguyễn Lê Hoài T3 cũng sử dụng lối đi chung này kể từ khi được bà Đàm Thị B làm thủ tục tách thửa đất và được công nhận quyền sử dụng đất riêng.

Theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 12/7/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, phần diện tích đang tranh chấp 124,9 m² trong đó có: 5 m² thuộc thửa 609 (thửa phân chiết 609-1), tờ bản đồ số 7, phường L, theo thông tin cập nhật trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM485746 cấp ngày 29/10/2018 thì diện tích đất 10,2 m² thuộc lộ giới đã thu hồi bỏ đất mở rộng đường trong đó có phần đất 5 m² (thuộc thửa phân chiết 609-1).

Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập lối đi chung, phù hợp thực tế quá trình quản lý, sử dụng lối đi chung này, phù với với việc đăng ký kê khai quyền sử dụng các diện tích đất sử dụng lối đi chung.

Tuy nhiên, theo lời trình bày của các nguyên đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ về hình ảnh của diện tích lối đi thể hiện, trên lối đi chung hiện nay vẫn còn một số hàng rào dây thép và cột bê tông mà các bị đơn đặt trên lối đi chung, cản trở việc các nguyên đơn sử dụng lối đi chung này. Do vậy, cần tuyên án chi tiết hơn về phần buộc các bị đơn chấm dứt việc cản trở các nguyên đơn trong việc sử dụng lối đi chung để đảm bảo việc thi hành bản án trên thực tế và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 158, 160, 161, 163, 164, 254 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 171 Luật Đất đai 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thới L, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 1829/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn:

    Công nhận diện tích đất 124,9m² thuộc các thửa đất số 609-1, 30-1, 39-1, 29-1, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là lối đi chung theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 12/7/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là các ông (bà) Nguyễn Thới L, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Tuấn K1, Nguyễn Lê Hoài T3, Nguyễn Thị Ngọc Á phải chấm dứt hành vi cản trở đối với nguyên đơn về việc sử dụng diện tích lối đi chung trên (trong đó, phải tháo dỡ hàng rào thép, cột bê tông ... đã đặt trên lối đi chung để khôi phục nguyên trạng lối đi ban đầu).

  2. Về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm:
    1. Về chi phí tố tụng: phía nguyên đơn tự nguyện nộp, đã nộp đủ.
    2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là các ông (bà) Nguyễn Thới L, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Tuấn K1, Nguyễn Lê Hoài T3, Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

      H lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn là các ông (bà) Nguyễn Đình Kim K, Hàn Thọ N, Tạ Thị Thanh X 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), lần lượt theo các Biên lai thu số 0058070, 0058068, 0058069 cùng ngày 28/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thới L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002495 ngày 16/10/2023 tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (đã nộp xong).
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP(3), HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 382/2024/DS-PT ngày 30/05/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp lối đi chung

  • Số bản án: 382/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kha Bực
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger