TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3816/2024/DS-ST
Ngày: 16/08/2024
V/v tranh chấp tài sản chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn.
- Ông Phạm Văn Phước
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam– Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1413/2023/DSST ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Yêu cầu chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 193/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 05 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 2349/2024/QĐ-HPT ngày 25 tháng 06 năm 2024 và Thông báo số 12/TB-TA ngày 14 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Cao Văn Q, sinh năm 1964
Địa chỉ: Số C, đường F, khu phố F, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Bà Cao Thị Ú, sinh năm 1963
Địa chỉ: Số D, đường F, khu phố F, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Cao Thị S, sinh năm 1954
Địa chỉ: Số 54/5, đường 66, khu phố 6, phường Thảo Điền, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Cao Thị L, sinh năm 1944
Địa chỉ: Số D, đường F, khu phố F, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
- Ông Cao Văn Đ, sinh năm 1959
Địa chỉ: Số A N, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
- Ngân hàng TMCP S1
Trụ sở: 266 – B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy quyền Ông Huỳnh Nguyễn Anh V, sinh năm 1978
Địa chỉ liên hệ: 205 N, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
(Ông Q, bà S, bà L, ông V có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Ú, ông Đ vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên Tòa ngày hôm nay ông Cao Văn Q tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị L, bà Cao Thị S là dì ruột của ông, ông Cao Văn Đ là cậu ruột của ông. Lúc dì, cậu và ông còn thuận thảo, dì, cậu và ông đã góp lại mỗi người 400.000.000 đồng, được tổng số tiền là 2.000.000.000 đồng. Dì, cậu và ông thống nhất đem toàn bộ số tiền trên gửi vào ngân hàng để dưỡng già. Dì, cậu và ông cùng đem số tiền 2.000.000.000 đồng gửi vào Ngân hàng S2 phòng G, Thành phố Hồ Chí Minh, tài khoản có số [...]. Lúc gửi, dì, cậu và ông cứ nghĩ đơn giản là gửi thì cùng đi gửi và cùng đứng tên chung, nhưng ai cần lo thuốc men, trị bệnh thì cứ liên hệ Ngân hàng mà rút ra phần của mình. Dì, cậu và ông không nghĩ là khi rút tiền phải có cả 5 người cùng một đi rút. Ngân hàng không giải thích việc đó cho dì, cậu và ông biết. Vừa qua ông có nhu cầu rút phần tiền của mình ra để lo thuốc men cho bản thân, ông đã đến Ngân hàng xin rút phần của ông thì Ngân hàng không cho và yêu cầu ông phải đưa cả 05 người lên thì mới rút được tiền. Ông về thông báo lại cho dì và cậu, dì và cậu đều đồng ý nhưng sau đó bà Cao Thị Ú và ông Cao Văn Đ không chịu đi với lý do bệnh tật đi lại khó khăn nên không đi nổi. Từ đó ông mới khởi kiện yêu cầu chia số tiền trên để mỗi người tự liên hệ Ngân hàng để rút tiền, không ai lệ thuộc vào ai. Tại Tòa ông yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức xử chia đều số tiền 2.000.000.000 đồng thành 05 phần bằng nhau, mỗi phần là 400.000.000 đồng và dành cho mỗi người được quyền tự mình liên hệ với Ngân hàng để nhận số tiền trên.
Bị đơn bà Cao Thị Ú vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không thu thập được lời khai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn Đ vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không thu thập được lời khai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị S, bà Cao Thị S tuy vắng nhưng theo bản tự khai thì nội dung như sau:
Bà và bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ là anh chị em ruột, Cao Văn Q là cháu ruột của bà. Trước đây khi ông bà ( bao gồm bà, bà Ú, bà L, ông Đ và cháu Q) còn thuận thảo, ông bà góp lại mỗi người 400.000.000 đồng, được tổng số tiền là 2.000.000.000 đồng. Ông bà thống nhất đem toàn bộ số tiền trên gửi vào Ngân hàng để dưỡng già. Lúc ấy, ông bà cứ nghĩ đơn giản là gửi thì gửi chung nhưng ai cần lo thuốc men, trị bệnh thì cứ liên hệ Ngân hàng mà rút ra phần của mình, đâu nghĩ là khi rút tiền phải có cả 5 người, Ngân hàng đã không giải thích việc đó cho ông bà biết.Vừa qua cháu Cao Văn Q có nhu cầu rút phần tiền của mình ra để lo sức khỏe cho bản thân, cháu Q đến Ngân hàng xin rút phần của mình ra thì ngân hàng không cho và yêu cầu tất cả ông bà phải cùng đến Ngân hàng, cùng ký tên thì mới rút tiền ra được. Cháu Cao Văn Q có về báo lại cho ông bà biết về yêu cầu trên của Ngân hàng. Ông bà đều đồng ý cùng đến Ngân hàng theo yêu cầu của Ngân hàng. Ông bà đã thống nhất ngày giờ đến Ngân hàng để làm thủ tục rút tiền. Ông bà đã đến Ngân hàng theo lịch hẹn, nhưng bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ thì không thấy đến. Hỏi bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ thì bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ cho biết là không đi được vì lớn tuổi và đang bị bệnh. Từ đó cháu Cao Văn Q mới khởi kiện bà Cao Thị Ú yêu cầu chia số tiền trên để mỗi người tự liên hệ ngân hàng để rút tiền, không ai lệ thuộc với ai. Bà thống nhất với yêu cầu của Cao Văn Q.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị L, bà Cao Thị L tuy vắng nhưng theo bản tự khai thì nội dung như sau:
Bà và bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, ông Cao Văn Đ là anh chị em ruột, Cao Văn Q là cháu ruột của ông bà. Trước đây khi ông bà ( bao gồm bà, bà Ú, bà S, ông Đ và cháu Q) còn thuận thảo, ông bà có góp lại mỗi người 400.000.000 đồng, được tổng số tiền là 2.000.000.000 đồng. Ông bà thống nhất đem toàn bộ số tiền trên gửi vào Ngân hàng để dưỡng già. Lúc ấy, ông bà cứ nghĩ đơn giản là gửi thì gửi chung nhưng ai cần lo thuốc men, trị bệnh thì cứ liên hệ ngân hàng mà rút ra phần của mình, đâu nghĩ là khi rút tiền phải có cả 5 người, Ngân hàng đã không giải thích việc đó cho ông bà biết. Vừa qua cháu Cao Văn Q có nhu cầu rút phần tiền của mình ra để lo sức khỏe cho bản thân, cháu bà đã đến Ngân hàng xin rút phần của mình ra thì Ngân hàng không cho và yêu cầu tất cả ông bà phải cùng đến Ngân hàng, cùng ký tên thì mới rút tiền ra được. Cháu Cao Văn Q có về báo lại cho ông bà biết về yêu cầu trên của ngân hàng. Ông bà đã thống nhất ngày giờ đến ngân hàng để làm thủ tục rút tiền. Ông bà đã đến ngân hàng theo lịch hẹn, nhưng bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ thì không thấy đến. Hỏi bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ thì bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ cho biết ông bà không đi là vì lớn tuổi và đang bị bệnh nên không đi lại được. Từ đó cháu Cao Văn Q mới khởi kiện bà Cao Thị Ú yêu cầu chia số tiền trên để mỗi người tự liên hệ ngân hàng để rút tiền, không ai lệ thuộc với ai. Bà thống nhất với yêu cầu của Cao Văn Q.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP S1 ủy quyền ông Huỳnh Nguyễn Anh V, ông Huỳnh Nguyễn Anh V tuy vắng nhưng có văn bản gửi Tòa án xin được vắng mặt, không có ý kiến gì về nội dung tranh chấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Trần Thị Lam kiểm sát V1 phát biểu:
Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã qui định. Nhưng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử có vi phạm, cần rút kinh nghiệm;
Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên nhằm đảm bảo quyền lợi của ông Cao Văn Đ và bà Cao Thị Ú, đề nghị Hội đồng xét xử dành cho ông Cao Văn Đ, bà Cao Thị Ú quyền khởi kiện đối với ông Cao Văn Q, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L nếu có tài liệu chứng minh ông bà có phần tiền hùn nhiều hơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa ông Cao Văn Q và bà Cao Thị Ú là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nên căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức;
[2] Bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ đến Tòa cung cấp lời khai, họp công khai chứng cứ, hòa giải và nghe xét xử nhưng bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ vẫn không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình và không có lý do, nguyên đơn ông Cao Văn Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị S, bà Cao Thị L có đơn xin được xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung;
- Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của ông Cao Văn Q, yêu cầu Tòa xử chia đều số tiền 2.000.000.000 đồng mà ông, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L và ông Cao Văn Đ đã gửi vào tài khoản tại Ngân hàng TMCP S1; Dành cho mỗi người có quyền tự mình liên hệ Ngân hàng TMCP S1 để nhận phần tiền của mình, yêu cầu của ông Cao Văn Q, Hội đồng xét xử xét:
[2.1] Ông Cao Văn Q khởi kiện yêu cầu Tòa án chia đều số tiền 2.000.000.000 đồng cho ông ( Cao Văn Q), bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L và ông Cao Văn Đ, ông Cao Văn Q cung cấp cho Tòa án Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán chung/Thỏa thuận sử dụng tiền gửi tiết kiệm chung mà ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L và ông Cao Văn Đ đã ký ngày 29 tháng 5 năm 2021 tại Ngân hàng TMCP S1- Chi nhánh Q1- phòng giao dịch Nguyễn Duy T. Hội đồng xét xử xét thấy tuy ông Cao Văn Q không chứng minh được là có văn bản thỏa thuận và cùng xác nhận số tiền 2.000.000.000 đồng là tài sàn chung nhưng qua văn bản Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán chung/Thỏa thuận sử dụng tiền gửi tiết kiệm chung mà ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L và ông Cao Văn Đ đã ký ngày 29 tháng 5 năm 2021 tại Ngân hàng TMCP S1- Chi nhánh Q1- phòng G1, tiêu đề của văn bản đã thể hiện “mở và sử dụng tài khoản thanh toán chung/Thỏa thuận sử dụng tiền gửi tiết kiệm chung” và có cả chữ ký của ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ủ, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L và ông Cao Văn Đ, theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Cao Văn Q không phải có nghĩa vụ chứng minh. Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán chung/Thỏa thuận sử dụng tiền gửi tiết kiệm chung mà ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L và ông Cao Văn Đ đã ký ngày 29 tháng 5 năm 2021 tại Ngân hàng TMCP S1 là có cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận số tiền 2.000.000.000 đồng là tài sản chung của ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ.
[2.2] Như đã nhận định tại [2.1], số tiền 2.000.000.000 đồng là tài sản chung của ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ. Ông Cao Văn Q yêu cầu được chia đều số tiền trên cho ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ và dành cho ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ được quyền liên hệ Ngân hàng TMCP S1 để rút tiền của mình, Hội đồng xét xử xét thấy ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ là đồng sở hữu đối với số tiền 2.000.000.000 đồng, cá nhân ông Cao Văn Q 01 mình đến Ngân hàng xin được rút khoản tiền của mình, Ngân hàng đã không đồng ý cho rút và yêu cầu muốn rút tiền phải có cả 05 người cùng đến ngân hàng thì Ngân hàng mới làm thủ tục cho rút, trong thực tế bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ đã không cùng đến Ngân hàng TMCP S1 nên từ đó ông Cao Văn Q đã không rút được phần tiền của mình. Nay ông Cao Văn Q yêu cầu chia số tiền 2.000.000.000 đồng cho ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ và dành ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ được tự mình liên hệ Ngân hàng TMCP S1 để rút phần tiền của mình, Yêu cầu của ông Cao Văn Q là có cơ sở, không trái pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[2.3] Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai của ông Cao Văn Q, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L thì số tiền 2.000.000.000 đồng là số tiền mà các ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ hùn lại mà có. Nay ông Cao Văn Q có tranh chấp. Trong quá trình tố tụng, bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ đều không đến Tòa, không cung cấp bản khai, cho nên không có cơ sở để xem xét số tiền hùn của mỗi người. Do đó nhằm đảm bảo quyền lợi của bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ, Hội đồng xét xử nghĩ nên dành cho bà Cao Thị Ú, ông Cao Văn Đ quyền khởi kiện đối với ông Cao Văn Q, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L nếu có tài liệu chứng minh phần hùn của ông bà nhiều hơn phần hùn của ông Cao Văn Q, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L.
[2.4] Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về tố tụng cần phải rút kinh nghiệm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở;
Từ những phân tích nêu trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn Q là có cơ sở, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;
[6] Về án phí:
Đây là vụ án tranh chấp quyền sỡ hữu tài sản, do đó tất cả các đương sự đều phải chịu án phí theo quy định. Các đương sự trong vụ án gồm ông Cao Văn Q, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1964; Bà Cao Thị Ú, sinh năm 1963; Bà Cao Thị S, sinh năm 1954; Bà Cao Thị L, sinh năm 1944; Ông Cao Văn Đ, sinh năm 1959, thuộc trường hợp người cao tuổi quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho ông Cao Văn Q số tiền mà ông Cao Văn Q đã tạm nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 ; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273; Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 207; Điều 208; Điều 209; Điều 219 của Bộ Luật dân sự năm 2015.
- - Điều 2, 6, 7, 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- - Luật phí và lệ phí
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về Án phí, lệ phí Tòa án,
Xử:
- [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn Q.
- [1.1] Tuyên bố số tiền 2.000.000.000 đồng mà ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ đã gửi tại Ngân hàng TMCP S1 có số tài khoản 060270450175 là tài sản chung của ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ.
- [1.2] Ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ mỗi người được sở hữu số tiền 400.000.000 đồng.
- [1.3] Ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ được quyền tự mình liên hệ với Ngân hàng TMCP S1 để lập thủ tục rút số tiền 400.000.000 đồng mà mình được sở hữu khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- [1.4] Dành cho ông Cao Văn Đ, bà Cao Thị Ú quyền khởi kiện đối với ông Cao Văn Q, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L tại một vụ án khác nếu có tài liệu chứng minh ông bà có phần tiền hùn nhiều hơn ông Cao Văn Q, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L.
Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- [3] Về án phí:
- - Ông Cao Văn Q, bà Cao Thị Ú, bà Cao Thị S, bà Cao Thị L, ông Cao Văn Đ không phải chịu án phí.
- - H lại cho ông Cao Văn Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.000.000 đồng theo biên lai thu số 0005559 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập.
- [4] Về quyền kháng cáo
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- - Viện kiểm sát nhân dân TP Thủ Đức;
- - Chi cục Thi hành án dân sự TP Thủ Đức;
- - Đương sự;
- - Lưu VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Lũy |
Bản án số 3816/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tài sản chung
- Số bản án: 3816/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tài sản chung
