TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 381/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-7-2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Võ Thanh Nga
- 2. Bà Đinh Kim Hoàng
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 157/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 666/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thanh T, sinh năm 1988
Địa chỉ: 2 B, Phường E, Quận D-TP. Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Phan Thanh G, sinh năm 1988
Địa chỉ thường trú: 241/33/21 B, Phường E (nay là Phường B), Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam X, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai (Đội 10, phân trại số 1).
(Bà T và ông G vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/3/2024 và bản tự khai ngày 25/4/2024, nguyên đơn bà Võ Thị Thanh T trình bày:
Bà tự nguyện chung sống với ông Phan Thanh G từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận D. Trong quá trình chung sống, giữa bà và ông G xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông G là người nghiện ma túy và bị Tòa án xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bà nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không có hạnh phúc nên bà xin ly hôn với ông G.
Về con chung: Bà T xác nhận, bà và ông Giàu c một con chung tên Phan Ngọc Tú T1, sinh ngày 24/01/2014. Khi ly hôn, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông G cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà T xác nhận không có.
Tại bản tự khai ngày 19/6/2024, bị đơn ông Phan Thanh G trình bày:
Ông và bà Võ Thị Thanh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận D. Sau khi bà T mang thai và sinh con thì ông bị bắt do phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và chấp hành hình phạt tù 08 năm. Đến năm 2022, ông bị bắt do phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chấp hành hình phạt tù 18 năm. Thực tế, ông và bà T không có thời gian chung sống với nhau. Bản thân ông nghiện ma túy nên không muốn chung sống cùng vợ. Nay bà T xin ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Ông G xác nhận, ông và bà T có một con chung tên Phan Ngọc Tú T1, sinh ngày 24/01/2014. Khi ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông không cấp dưỡng nuôi con do không có điều kiện.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ông G xác nhận không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Các đương sự tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Thanh T đối với ông Phan Thanh G.
- + Về con chung: Giao con chung tên Phan Ngọc Tú T1, sinh ngày 24/01/2014 cho bà Võ Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con chung.
- + Về tài sản và nghĩa vụ chung: Bà Võ Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là vụ án dân sự về tranh chấp ly hôn. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Quận D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Võ Thị Thanh T và bị đơn ông Phan Thanh G vắng mặt do có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về hôn nhân: Bà Võ Thị Thanh T và ông Phan Thanh G chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E (nay là Phường B), Quận D (Giấy chứng nhận kết hôn số 14/2014 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường E (nay là Phường B), Quận D cấp ngày 08/3/2014) nên hôn nhân giữa bà T và ông G là hôn nhân hợp pháp.
Bà T xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Ông G xác nhận, hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nên ông cũng đồng ý ly hôn. Điều này chứng tỏ, hôn nhân giữa bà T và ông G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông G là có căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Căn cứ vào sự xác nhận của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định, bà T và ông Giàu c một con chung tên Phan Ngọc Tú T1, sinh ngày 24/01/20214 (Giấy khai sinh số 29/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường E (nay là Phường B), Quận D cấp ngày 19/3/2014). Bà T xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con. Ông G đồng ý giao con chung cho bà T nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày 26/4/2024, trẻ Phan Ngọc Tú T1 có nguyện vọng sống với mẹ. Xét thấy, việc bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với ý kiến của ông G và nguyện vọng của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Võ Thị Thanh T và ông Phan Thanh G xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và 131 của Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thanh T được ly hôn với ông Phan Thanh G.
- Về con chung: Bà Võ Thị Thanh T và ông Phan Thanh Giàu c1 một con chung tên Phan Ngọc Tú T1, sinh ngày 24/01/2014. Giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.
Ông Giàu có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở, nhưng ông G không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Võ Thị Thanh T và ông Phan Thanh G xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0034245 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4. Bà T đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Thanh T và ông Phan Thanh Giàu c1 quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Kiều |
Bản án số 381/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 381/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
