|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 381/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-5-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Kim Chọn
- Bà Phan Thị Dòn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 703/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm: 1992
Nơi cư trú: Hẻm 118 Quốc lộ 22B, ấp Hiệp Trường, xã Hiệp Tân, huyện H Thành, tỉnh Tây Ninh (Quán Bò tơ Năm Sánh)
Bị đơn: Ông Phạm Minh H, sinh năm: 1995
Nơi cư trú: Số 11 đường số 1, Khu dân cư Bình Hưng, ấp 2, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 17 tháng 4 năm 2023 và trong quá giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều D trình bày:
Bà và ông Phạm Minh H bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2017, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 21/8/2017. Thời gian đầu chung sống với nhau rất hạnh phúc, không có gì xảy ra, đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do sau khi sinh trẻ N thì bà về mẹ ruột ở để mẹ của bà tiện chăm sóc cho bà và con. Khi sinh trẻ N thì trẻ N bị dị tật khớp hàng, từ đó ông H và ba mẹ ông H không gọi điện hỏi thăm, cũng như đến thăm bà và trẻ N từ khi trẻ N sinh ra cho đến nay. Một mình bà chăm con từ khi sinh ra cho đến nay. Ông H chưa một lần gặp con trực tiếp bên ngoài, chỉ nói chuyện qua điện thoại. Từ khi trẻ N được 2 tuổi đến nay ông H cũng không gọi điện thoại để nói chuyện với con. Bà và ông H sống ly thân từ khi bà sinh trẻ N. Nay xét thấy tình cảm không còn cuộc sống chung không còn ý nghĩa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà và ông H có một con chung là trẻ Phạm Khánh N, sinh ngày 04/10/2019. Hiện tại trẻ N đang sống cùng bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ N, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con
Quá trình chung sống bà và ông H không có tài sản chung và nợ chung.
Do bà bận công việc nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà, bà cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì về việc vắng mặt của mình.
Bị đơn ông Phạm Minh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều D được ly hôn với ông Phạm Minh H
Về con chung: Giao 01 con chung là trẻ Phạm Khánh N, sinh ngày 04/10/2019 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Nguyễn Thị Kiều D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Minh H. Đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Ông Phạm Minh H cư trú tại số 11 đường số 1, Khu dân cư Bình Hưng, ấp 2, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Phạm Minh H nhưng ông H vẫn không đến Tòa tham gia xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà D, ông H là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Ông H đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của bà D nhưng ông H vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến, tham dự các buổi hòa giải, xét xử theo quy định mà vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
[5] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều D và ông Phạm Minh H sống chung có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông H là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[6] Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Kiều D xác định bà và ông Phạm Minh H mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà yêu cầu được ly hôn với ông H để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong vụ án này, bà D khai do sau khi sinh trẻ N thì bà về mẹ ruột ở để mẹ của bà tiện chăm sóc cho bà và con. Khi sinh trẻ N thì trẻ N bị dị tật khớp hàng, từ đó đến nay ba mẹ ông H không gọi điện hỏi thăm, cũng như đến thăm bà và trẻ N. Một mình bà chăm con sóc con. Ông H chưa một lần gặp con trực tiếp bên ngoài, chỉ nói chuyện qua điện thoại. Từ khi trẻ N được 2 tuổi đến nay ông H cũng không gọi điện thoại để nói chuyện với con. Bà D xác nhận bà và ông H sống ly thân từ khi bà sinh trẻ N cho đến nay. Mặc dù mâu thuẫn giữa bà và ông H chưa được Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh hòa giải nhưng ông H không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà D và ông H không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D đối với ông H.
[7] Về con chung: Bà D xác nhận bà và ông H có một con chung là trẻ Phạm Khánh N, sinh ngày 04/10/2019. Sau khi ly hôn, bà D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ N. Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xác nhận hiện nay trẻ N đang sống cùng bà D. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H nhưng ông H vẫn không đến Tòa để thể hiện ý kiến của ông về vấn đề con chung mà vắng mặt không lý do.
[8] Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”.
[9] Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho trẻ N tránh việc xáo trộn trong sinh hoạt hiện tại của trẻ, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ N cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.
[10] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà D không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà D và không trái luật nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H.
[11] Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác nhận bà và ông H không có tài sản chung và nợ chung. Ông H vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa ông và bà D nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà D và ông H trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
[12] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều D chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kiều D
Cho bà Nguyễn Thị Kiều D được ly hôn với ông Phạm Minh H
Giấy chứng nhận kết hôn số 109 do Ủy ban nhân dân xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/8/2017 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao con chung là trẻ Phạm Khánh N, sinh ngày 04/10/2019 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H.
Ông H có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều D chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà D đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0020222 ngày 12/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà D đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kiều D, ông Phạm Minh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy |
Bản án số 381/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 381/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kiều D - Phạm Minh H
