|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 381/2024/DS-PT
Ngày: 02-5-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Oanh
Các thẩm phán: 1. Bà Võ Thị Kim Thương
2. Bà Nguyễn Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 và ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 650/2023/DSPT ngày 5/12//2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số: 3412/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H có kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 996/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 3484/2024/QĐ-PT ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đỗ Thành N, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số G, đường N, Phường C, quận G, Thành phố H. Địa chỉ liên hệ: Số 234 (lầu A), đường T, phường T, quận T, Thành phố H (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L có người đại diện theo pháp luật là ông Trần T, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số B (lầu A), đường T, phường T, quận T, Thành phố H (giấy ủy quyền số chứng thực: 00692, quyển số: 11-SCT/CK,ĐC ngày 03/11/2020 của Văn phòng C1) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Văn K, sinh năm 1949 là Luật sư Công ty L - Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số B (lầu A), đường T, phường T, quận T, Thành phố H (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số B, đường số A, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố H (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số B, đường T, Phường A, quận G, Thành phố H (có mặt). Hoặc
- Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số G, Đường A, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt)
(giấy ủy quyền số chứng thực: 91, quyển số: 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/01/2022 của Văn phòng C2).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Tấn Trí N1, sinh năm 1969 là Luật sư Văn phòng Luật sư Trần Tấn Trí N1 - Đoàn luật sư Thành phố H Địa chỉ: Số B, đường L, Phường G, quận B, Thành phố H (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tôn Nữ Diệu T1, sinh năm 1988.
- Trẻ Nguyễn Thành D, sinh năm 2010.
- Trẻ Nguyễn Diệu N2, sinh năm 2020.
Người đại diện theo pháp luật của trẻ D và N2: Ông Nguyễn Thành Đ và bà Tôn Nữ Diệu T1) (văng mặt).
Cùng địa chỉ: Số B, đường số A, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T1: Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số F, đường Q, Phường A, quận G, Thành phố H (Giấy ủy quyền số công chứng 13522 quyển số: 08/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 18/8/2023 của Văn phòng C2) (có mặt).
- Văn phòng C1
Trưởng văn phòng: Ông Chu Thành C
Địa chỉ: Số G, đường C, Phường F, quận T, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đỗ Thành N và bị đơn ông Nguyễn Thành Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Đỗ Thành N có đại diện theo ủy quyền ông Trần T trình bày:
Vào ngày 18/8/2020, tại Văn phòng C1, ông Đỗ Thành N và ông Nguyễn Thành Đ có ký hợp đồng đặt cọc số 0004310, quyền số 08TP/CC-SCC/HĐGD để nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Thành Đ một phần quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², thuộc 01 phần thửa đất số 1092, 202 tờ bản đồ số 2, phường L, Quận 1, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 03140 QSDD/LP do U cấp ngày 19/6/2003, đăng ký thay đổi ngày 05/6/2018 với giá thỏa thuận là 14.800.000.000 đồng.
Thực hiện theo đúng Hợp đồng đặt cọc, ông Đỗ Thành N đã chuyển đủ số tiền đặt cọc là 6.500.000.000 đồng (500.000.000 đồng giao tiền mặt, 6.000.000.000 đồng ông N chuyển khoản). Theo Hợp đồng đặt cọc nêu trên thì trong vòng 45 ngày làm việc tính từ ngày thanh toán đợt 2 (ngày 18/8/2020) ông Đ phải tiến hành chuyển nhượng 01 phần quyền sử dụng đất nêu trên cho ông N. Tuy nhiên, đến thời hạn như thỏa thuận ông Đ lại không thể ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Đỗ Thành N vì ông Đ chưa tách thửa được vì vậy hai bên ký văn bản thỏa thuận ngày 19/10/2020 với nội dung: Hai bên cùng xác nhận: “đến thời điểm hiện tại là ngày 19/10/2020 bên A (bên ông Đ) chưa thực hiện xong việc chuyển đổi mục đích sử dụng và tách thửa, tách sổ đối với phần diện tích đất mà bên A đã thỏa thuận chuyển nhượng cho bên B nên chưa thể thực hiện được việc chuyển nhượng theo Điều 1 của Hợp đồng đặt cọc đã ký giữa hai bên ngày 18/8/2020 nêu trên”.
Sau đó ông Đỗ Thành N đã nhiều lần liên hệ với ông Đ để yêu cầu ông Đ ký kết hợp đồng chuyển nhượng theo đúng quy định pháp luật để chuyển nhượng 01 phần quyền sử dụng đất đã thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc nhưng ông Đ không thực hiện.
Vì vậy ông Đỗ Thành N yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt cọc số công chứng: 0004310, quyền số 08TP/CC-SCC/HĐGD ngày 18/8/2020, yêu cầu ông Nguyễn Thành Đ tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², thuộc 01 phần thửa đất số 1092, 202 tờ bản đồ số 2, phường L, Quận 1, Thành phố H.
Ngày 22/5/2023 nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Thành Đ trả lại tiền cọc đã nhận là 6.500.000.000 đồng và tiền phạt cọc do vi phạm hợp đồng đặt cọc số công chứng: 0004310, quyền số 08TP/CC/SCC/HĐGD ngày 18/8/2020 là 6.500.000.000 đồng, tổng số tiền yêu cầu ông Nguyễn Thành Đ phải trả cho ông Đỗ Thành N là 13.000.000.000 đồng (mười ba tỷ đồng).
Số tiền đặt cọc cho bị đơn là tiền riêng của ông N, không liên quan đến ai khác, ông N đã ly hôn vào năm 2018, hiện chưa kết hôn với ai.
Bị đơn ông Nguyễn Thành Đ có đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Xuân H trình bày:
Vào ngày 18/8/2020, tại Văn phòng C1, ông Nguyễn Thành Đ và ông Đỗ Thành N ký Hợp đồng đặt cọc số 0004310, quyền số 08TP/CC-SCC/HĐGD về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², thuộc 01 phần thửa đất số 1092 và 01 phần thừa 202 tờ bản đồ số 2, phường L, Quận I với giá thỏa thuận là 14.800.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng ông Đ đã nhận số tiền cọc là 6.500.000.000 đồng.
Theo nội dung Điều 3 hợp đồng đặt cọc nêu trên: Trong vòng 45 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc bên B phải thanh toán hết số tiền còn lại là 8.300.000.000 đồng. Nếu bên B không thanh toán sẽ bị mất toàn bộ số tiền đặt cọc nêu trên. Đồng thời số tiền đặt cọc ngày 18/8/2020 sẽ hết hiệu lực và bên A sẽ đơn phương hủy hợp đồng đặt cọc này và có quyền chuyển nhượng cho người khác. Vì vậy đối với yêu cầu của nguyên đơn bị đơn không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Bà Tôn Nữ Diệu T1 trình bày: Thống nhất với ý kiến của ông Đ, không có ý kiến gì khác, bà T1 có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ kiện.
Văn phòng C1 trình bày: Vào ngày 18/8/2020 tại Văn phòng C1, ông Nguyễn Thành Đ và ông Đỗ Thành N ký hợp đồng đặt cọc số 0004310, quyền số 08TP/CC-SCC/HĐGD về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², thuộc 01 phần thửa đất số 1092 và 01 phần thửa 202 tờ bản đồ số 2, phường L, Quận I, tại thời điểm hai bên giao kết hợp đồng đặt cọc: tài sản là quyền sử dụng đất không thuộc trường hợp bị cấm, tạm dừng chuyển dịch, không bị tranh chấp.
Chứng từ tài sản do bên nhận đặt cọc xuất trình tại Văn phòng C1 là bản thật, các bên giao dịch hợp đồng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đã tự nguyện giao kết hợp đồng. Việc công chứng hợp đồng đặt cọc nêu trên là thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục của pháp luật. Văn phòng C1 có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ kiện.
Cháu Nguyễn Thành D và Nguyễn Diệu N2 có đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Thành Đ, bà Tôn Nữ Diệu T1 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của bị đơn, không có ý kiến gì khác, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại Bản án sơ thẩm số: 3412/2024/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H đã xử:
- Tuyên bố hợp đồng đặt cọc số công chứng 0004310, quyền số 08TP/CC-SCC/HĐGD được ký ngày 18/8/2020 tại Văn phòng C1 giữa ông Đỗ Thành N và ông Nguyễn Thành Đ vô hiệu.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Đ có trách nhiệm trả lại tiền cọc 6.500.000.000 đồng (sáu tỷ năm trăm triệu đồng) cho ông Đỗ Thành N. Việc thi hành làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thành N về việc buộc ông Nguyễn Thành Đ bồi thường cọc 6.500.000.000 đồng (sáu tỷ năm trăm triệu đồng).
- Về án phí: Ông Nguyễn Thành Đ phải nộp số tiền án phí là: 112.000.000 đồng + (0,1% x 2.500.000.000 đồng) = 114.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T khi án có hiệu lực pháp luật.
Ông Đỗ Thành N phải nộp số tiền: 112.000.000 đồng + (0,1% x 2.500.000.000 đồng) = 114.500.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 61.400.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2019/0047165 ngày 30/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9 (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T), nguyên đơn phải nộp thêm số tiền 53.100.000 đồng.
Chi phí đo vẽ và chi phí thẩm định tại chỗ nguyên đơn tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, quyền thi hành án của các đương sự.
Ngày 08/9/2023, nguyên đơn ông Đỗ Thành N nộp đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án. Lý do kháng cáo: Tòa án xem xét, đánh giá các chứng cứ và tình tiết trong vụ án không khách quan, chưa đầy đủ, không phù hợp với diễn biến thực tế và vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án theo hướng buộc bị đơn ông Đ trả cho ông số tiền phạt cọc do vi phạm hợp đồng đặt cọc là 13.000.000.000 đồng.
Ngày 07/9/2023, bị đơn ông Nguyễn Thành Đ có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Xuân H kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên khởi kiện, các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá các chứng cứ và tình tiết trong vụ án không khách quan, chưa đầy đủ, không phù hợp với diễn biến thực tế và vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án, nếu không chấp nhận đề nghị buộc bị đơn ông Đ trả cho ông số tiền phạt cọc do vi phạm hợp đồng đặt cọc là 13.000.000.000 đồng.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất với ý kiến của luật sư.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Bản vẽ không được kiểm tra nội nghiệp mà Văn phòng công chứng lại căn cứ để chứng nhận là không đúng quy định, việc không tách thửa được bên bị đơn không biết nên đề nghị hủy án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của chủ tọa, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự và về nội dung như sau:
- Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các bên đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa Bản án dân sự số: 3412/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H theo hướng không tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Thành N, của bị đơn ông Nguyễn Thành Đ do người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Xuân H làm đúng hình thức, trong hạn luật định, đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên được công nhận về mặt hình thức.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Thành N với nội dung: Tòa án xem xét, đánh giá các chứng cứ và tình tiết trong vụ án không khách quan, chưa đầy đủ, không phù hợp với diễn biến thực tế và vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thành Đ với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy,
Tranh chấp của hai bên là tranh chấp đối với việc thực hiện Hợp đồng đặt cọc số công chứng 0004310, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD ngày 18/8/2020 giữa ông Đỗ Thành N và ông Nguyễn Thành Đ.
Đối tượng chuyển nhượng theo hợp đồng đặt cọc là 1.000m² đất, là một phần chưa được tách thửa của thửa đất số 1092, 202 tờ bản đồ số 2, phường L, Quận 1, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 03140 QSDĐ/LP do U cấp ngày 19/6/2003, đăng ký thay đổi ngày 05/6/2018 cấp cho ông Đ. Căn cứ bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH MTV Đ1 lập ngày 18/6/2020 kèm theo hợp đồng đặt cọc ngày 18/8/2020 hai bên thỏa thuận thửa số 02 (thửa phân chiết 2-1) diện tích 963,6m² thừa số 3 (thửa phân chiết 3-1), diện tích 34m², thừa 4 (thửa phân chiết 4-1) diện tích 2,4m².
Xét thấy,
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 03140 QSDĐ/LP do U cấp ngày 26/9/2003, đăng ký thay đổi lần cuối ngày 05/6/2018 được cấp đổi sổ mới số CV 617946, số vào số CS 07143 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 25/9/2020, trong đó thửa 551 diện tích 351m², mục đích sử dụng là đất nuôi trồng thủy sản, thửa 552, diện tích 1988,6m², mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm. Thửa 551 được thành lập từ thửa 202, tờ bản đồ số 02 (tài liệu 02/CT-UB) tương ứng với một phần thửa số 02, tờ bản đồ số 6 (theo tài liệu 2003); thửa 552 được thành lập từ thửa 1092, tờ bản đồ số 02 (tài liệu 02/CT-UB) tương ứng với một phần thừa số 02, 03, 04 và 10 tờ bản đồ số 6 (theo tài liệu 2003).
[4] Các bên thỏa thuận chuyển nhượng 1.000m² đất nông nghiệp không cùng trên một thửa đất (một phần thửa 1092 và một phần thửa 202), hai thửa đất lại không cùng mục đích sử dụng đất, mặc khác giấy chứng nhận ghi mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản nhưng theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 25/5/2021 và Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 05/01/2022 thì trên đất tồn tại 02 căn nhà 85 và 85A do gia đình ông Đ đang quản lý sử dụng do vậy việc tách thửa đất là không thể thực hiện được.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 5 của Quyết định số: 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa, để nhận định các bên ký kết Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần quyền sử dụng đất không đảm bảo điều kiện tách thửa nên hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nên hợp đồng đặt cọc ngày 18/8/2020 giữa ông Đỗ Thành N và ông Nguyễn Thành Đ vô hiệu là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Theo hợp đồng đặt cọc ngày 18/8/2020 ghi nhận: “Bên A phải có trách nhiệm hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho bên B để tiến hành thực hiện mọi thủ tục pháp lý, giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất nêu trên....", tiếp theo ngày 19/10/2020 hai bên lập văn bản thỏa thuận với nội dung: “đến thời điểm hiện tại là ngày 19/10/2020 bên A (bên ông Đ) chưa thực hiện xong việc chuyển đổi mục đích sử dụng và tách thửa, tách sổ đối với phần diện tích đất mà bên A đã thỏa thuận chuyển nhượng cho bên B nên chưa thể thực hiện được việc chuyển nhượng theo Điều 1 của Hợp đồng đặt cọc đã ký giữa hai bên ngày 18/8/2020 nêu trên”. Như vậy, theo như thỏa thuận đặt cọc thì ông N (bên B) có trách nhiệm thực hiện các thủ tục chuyển nhượng, nhưng theo văn bản ngày 19/10/2020 (khi chưa hết hạn thỏa thuận đặt cọc) thì ông Đ (bên A) chưa thực hiện xong việc chuyển đổi mục đích sử dụng và tách thửa. Hai thỏa thuận này có nội dung trái ngược nhau, không rõ trách nhiệm việc thực hiện thủ tục tách thửa để chuyển nhượng thuộc về bên nào để xác định trách nhiệm do vi phạm thỏa thuận đặt cọc. Vì vậy, nội dung về biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng là đặt cọc cũng không thể thực hiện được nên vô hiệu.
Tòa án cấp sơ thẩm xử lý hợp đồng vô hiệu, buộc ông Nguyễn Thành Đ có trách nhiệm trả lại cho ông Đỗ Thành N số tiền cọc đã nhận là 6.500.000.000 đồng, bác yêu cầu phạt cọc của cả hai bên là có căn cứ.
[6] Tòa án cấp sơ thẩm nhận định về hợp đồng đặt cọc vô hiệu để giải quyết các yêu cầu của các đượng sự là có căn cứ, tuy nhiên ở phần quyết định tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu là vượt quá yêu cầu khởi kiện của các đương sự vì các bên đương sự không ai yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu. Vì vậy, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Thành N, sửa bản án sơ thẩm để bỏ phần tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu.
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N, ông Đ kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu câu kháng cáo của mình; ngoài ra, các lý do kháng cáo của ông N, ông Đ nêu trên là không có căn cứ và việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm là có cơ sở, áp dụng đúng pháp luật, ngoài việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu là vượt quá yêu cầu của đương sự nên Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, bỏ phần tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu, giữ y các phần còn lại của quyết định trong bản án sơ thẩm, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
[8] Do phần sửa án không ảnh hưởng đến án phí, chi phí tố tụng sơ thẩm nên phần này được giữ y.
Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông N, được chấp nhận một phần, bản án sơ thẩm bị sửa liên quan đến phần kháng cáo của ông N nên ông N không phải chịu án phí phúc thẩm, ông Đ không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Các điều 6, 177, 178, 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 116, 117, 119, 122, 129, 131, 500, 502, 562, 569 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 168, 169 của Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ khoản 1, 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội..
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thành Đ.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đỗ Thành N.
- Sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 3412/2024/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H.
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, 131, 408 Bộ luật Dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 29 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP15 tháng 5 năm 2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị quyết số: 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Đ có trách nhiệm trả lại tiền cọc 6.500.000.000 đồng (sáu tỷ năm trăm triệu đồng) cho ông Đỗ Thành N. Việc thi hành làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thành N về việc buộc ông Nguyễn Thành Đ bồi thường cọc 6.500.000.000 đồng (sáu tỷ năm trăm triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành Đ phải nộp số tiền án phí là: 112.000.000 đồng + (0,1% x 2.500.000.000 đồng) = 114.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T khi án có hiệu lực pháp luật.
Ông Đỗ Thành N phải nộp số tiền: 112.000.000 đồng + (0,1% x 2.500.000.000 đồng) = 114.500.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 61.400.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2019/0047165 ngày 30/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9 (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T), nguyên đơn phải nộp thêm số tiền 53.100.000 đồng.
Chi phí đo vẽ và chi phí thẩm định tại chỗ nguyên đơn Đỗ Thành N tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Đỗ Thành N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông N tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0064694 ngày 13/9/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố H lập.
- Ông Nguyễn Thành Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông Đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0004915 ngày 22/9/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố H lập.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tú Oanh |
Bản án số 381/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 381/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, Sửa một phần Bản án sơ thẩm: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
