|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 381/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/5/2025 Về việc: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Mạnh Tuấn |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Phúc Tuấn |
| Ông Nguyễn Văn Thông | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Nguyễn Mạnh Đức – Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên toà: | Bà Nguyễn Lê Phương Thủy - Kiểm sát viên. |
Ngày 30/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 108/2025/TLST-HNGD ngày 20/02/2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXX-ST ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh ngày 22/10/1991. Nơi thường trú: số B, tổ B, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đặng Đình C, sinh ngày 23/01/1989. Nơi thường trú: số B, tổ B, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Tại Đơn xin ly hôn, các Bản tự khai, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn là chị Trần Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân : Chị H và anh Đặng Đình C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 09/7/2013 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn anh chị chưa kết hôn lần nào. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ: số B, tổ B, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị trình bày, do chị và anh C có tính cách, quan điểm, lối sống khác nhau nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng dẫn tới mâu thuẫn không thể giải quyết được. Anh chị đã tìm mọi cách để cải thiện mối quan hệ vợ chồng nhưng không có kết quả. Gia đình hai bên nội ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng tình trạng hôn nhân của anh chị không tiến triển mà ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị H xác định mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng sống ly thân từ khoảng giữa năm 2024, không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Đình C để chị sớm ổn định cuộc sống và tư tưởng.
Về con chung: Chị xác nhận chị và anh C có 02 con chung là cháu Đặng Đình Gia B sinh ngày 03/4/2014 giới tính nam và cháu Đặng Đình Anh D sinh ngày 03/11/2017 giới tính nam. Hai con chung hiện nay đều khoẻ mạnh phát triển bình thường. Hiện nay hai con đang ở cùng nhà với anh C và ông bà nội. Do chị H nghề nghiệp không ổn định, đi bán hàng rong thu nhập khoảng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/tháng, hiện đang thuê nhà trọ không cố định để tiện việc đi bán hàng (không có hợp đồng thuê nhà). Chị không muốn tách hai con ở hai nơi vì sau này lớn lên hai còn sẽ mất tình cảm anh em nên chị đề nghị Toà án giao 02 con chung cho anh C là người trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị đề nghị cấp dưỡng 2.500.000 đồng/2 con/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Tại Bản tự khai, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, bị đơn là anh Đặng Đình C trình bày:
Anh Đặng Đình C và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 09/7/2013 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng anh chị cũng có lúc mâu thuẫn với nhau nhưng không đến mức trầm trọng. Đến khoảng năm 2022 sau khi chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản trở về nhà thì chị H thay đổi tính nết, mâu thuẫn giữa hai anh chị xảy ra nhiều hơn. Khoảng tháng 9/2024, chị H đã ra ngoài ở sống ly thân với anh C. Anh C có gặp chị H để thuyết phục và đón chị H về nhà chung sống nhưng chị H không đồng ý. Quan điểm của anh C là không muốn ly hôn với chị H để gia đình không bị đổ vỡ, con cái đầy đủ cha mẹ. Việc chị H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H ly hôn với anh C, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Về con chung: Anh C xác nhận anh và chị H có 02 con chung là cháu Đặng Đình Gia B sinh ngày 03/4/2014 giới tính nam và cháu Đặng Đình Anh D sinh ngày 03/11/2017 giới tính nam. Hiện nay hai con đang ở cùng nhà với anh C và ông bà nội (bố mẹ đẻ anh C). Trường hợp ly hôn anh C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu. Về việc cấp dưỡng anh chị tự nguyện thỏa thuận.
Về tài sản chung: Anh C và chị H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh C trình bày có 02 lần anh và chị H vay tiền bố mẹ đẻ anh là:
- Lần 1: Hai vợ chồng vay 300.000.000 đồng lúc vợ chồng anh chị vẫn còn chung sống cùng nhau chưa ly thân. Anh xác định đây là nợ chung hai vợ chồng, hai anh chị đều có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho bố mẹ anh.
- Lần 2: Chị H vay cá nhân bố mẹ anh số tiền 110.000.000 đồng và 1,2 cây vàng để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động Nhật Bản. Số tiền và vàng này là chị H vay riêng nên chị H có nghĩa vụ phải trả bố mẹ anh.
Do chưa chuẩn bị được tài liệu chứng cứ về vay nợ chung, nợ riêng của hai vợ chồng nên anh C không đề nghị giải quyết trong vụ án này. Nếu có yêu cầu giải quyết vấn đề nợ chung, nợ riêng của vợ chồng anh sẽ đề nghị giải quyết bằng một vụ án khác.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Chị H trình bày: Chị H giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã gửi cho Toà án. Chị đề nghị được ly hôn với anh C để ổn định cuộc sống. Hiện nay hai con đang ở cùng nhà với anh C và ông bà nội. Do chị H không có nghề nghiệp ổn định, đi bán hàng rong thu nhập khoảng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/tháng, hiện đang thuê nhà trọ không cố định để tiện việc đi bán hàng (không có hợp đồng thuê nhà). Chị không muốn tách hai con ở hai nơi vì sau này lớn lên hai còn sẽ mất tình cảm anh em nên chị đề nghị Toà án giao 02 con chung cho anh C là người trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên chị đề nghị được giao quyền thăm nom, chăm sóc các con chung, anh C không được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, chị đề nghị cấp dưỡng 2.500.000 đồng/2 con/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Đặng Đình C trình bày: Đề nghị Toà án hoà giải, không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà anh cũng không đưa ra được phương án nào để hoà giải giữa hai vợ chồng. Trường hợp phải ly hôn, anh nhất trí với yêu cầu của chị H đề nghị Toà án giao cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và mức cấp dưỡng 2.500.000 đồng/2 con/tháng của chị H. Về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng của hai vợ chồng do chưa chuẩn bị được tài liệu chứng cứ, anh không đề nghị giải quyết trong vụ án này. Anh đề nghị giải quyết vấn đề này bằng một vụ án riêng theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 BLTTDS năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H đối với anh Đặng Đình C.
- Về con chung: Chị Trần Thị Thu H và anh Đặng Đình C có 02 con chung là cháu Đặng Đình Gia B sinh ngày 03/4/2014 giới tính nam và cháu Đặng Đình Anh D sinh ngày 03/11/2017 giới tính nam. Hai con chung đều khoẻ mạnh phát triển bình thường. Giao anh Đặng Đình C là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu Đặng Đình Gia B và cháu Đặng Đình A D kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thu H và anh Đặng Đình C tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng là chị H cấp dưỡng 2.500.000 đồng/2 con/tháng.
- Về tài sản chung: chị Trần Thị Thu H và anh Đặng Đình C xác nhận anh chị không có tài sản chung và cũng không cho ai vay nợ chung. Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án không xem xét.
- Về nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị Trần Thị Thu H và anh Đặng Đình C không yêu cầu giải quyết về nợ chung, nợ riêng trong vụ án này. Trường hợp chị H, anh C có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Thu H khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn là anh Đặng Đình C, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: số B, tổ B, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
- Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà có mặt nguyên đơn, bị đơn nên đủ điều kiện xét xử theo quy định.
-
Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H đối với anh Đặng Đình C:
-
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Thu H và anh Đặng Đình C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 09/7/2013 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn anh chị chưa kết hôn lần nào, tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị H trình bày, anh chị chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Do chị và anh C có tính cách, quan điểm, lối sống khác nhau nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng dẫn tới mâu thuẫn không thể giải quyết được. Theo anh C trình bày, quá trình chung sống hai vợ chồng cũng có lúc mâu thuẫn nhưng không đến mức trầm trọng. Đến khoảng năm 2022 sau khi chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản trở về nhà thì chị H thay đổi tính nết, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều hơn. Anh C và chị H đã tìm mọi cách để cải thiện mối quan hệ vợ chồng nhưng không có kết quả. Gia đình hai bên nội ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng tình trạng hôn nhân không tiến triển mà ngày càng trầm trọng hơn. Quan điểm của anh C là không muốn ly hôn với chị H để gia đình không bị đổ vỡ, con cái đầy đủ cha mẹ tuy nhiên anh C cũng không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ, khắc phục mâu thuẫn chung giữa hai vợ chồng.
Nay chị H xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, hai vợ chồng sống ly thân từ khoảng giữa năm 2024, không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau. Anh chị đã không thực hiện các nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19, 21 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 là: thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình. Tình trạng hôn nhân của chị H, anh C cũng phù hợp với Biên bản xác minh ngày 29/5/2025 tại địa phương nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích trên, xét quan hệ hôn nhân giữa chị H với anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Chị H có nguyện vọng muốn ly hôn để ổn định cuộc sống. Yêu cầu ly hôn của chị H là chính đáng do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh C.
-
Về con chung:
Chị H và anh C có 02 con chung là cháu Đặng Đình Gia B sinh ngày 03/4/2014 giới tính nam và cháu Đặng Đình Anh D sinh ngày 03/11/2017 giới tính nam. Hai con chung đều khoẻ mạnh phát triển bình thường. Hiện nay hai con đang ở cùng nhà với anh C và ông bà nội. Do chị H không có nghề nghiệp ổn định, đi bán hàng rong, thu nhập khoảng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/tháng, hiện đang thuê nhà trọ không cố định để tiện việc đi bán hàng (không có hợp đồng thuê nhà). Chị H không muốn tách hai con ở hai nơi vì sau này lớn lên hai còn sẽ mất tình cảm anh em nên chị đề nghị Toà án giao 02 con chung cho anh C là người trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C cũng nhất trí trường hợp ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu.
Xét thấy, tại địa chỉ số B, tổ B, phường P, quận H hiện nay là nhà của bố mẹ đẻ anh C. Anh C và 02 con đang ở cùng với bố mẹ đẻ của anh C tại địa chỉ này. Bản thân anh C cũng đi làm thợ sơn tại địa phương, anh C cùng ông bà nội của các cháu có sức khỏe, đủ điều kiện về thời gian, vật chất, có chỗ ở ổn định để chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Để các con chung không bị ảnh hưởng thay đổi chỗ ở, học hành, phát triển bình thường về tâm sinh lý và để đảm bảo quyền lợi cho con. Do đó có căn cứ chấp nhận sự tự nguyện của chị H và anh C, giao anh C là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu Đặng Đình Gia B và cháu Đặng Đình A D kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, ghi nhận sự tự nguyện của chị H, anh C tự thỏa thuận tại phiên toà về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.500.000 đồng/2 con/tháng, kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị H, anh C xác nhận anh chị không có tài sản chung và cũng không cho ai vay nợ chung.
- Về nợ chung: Anh C xác nhận do chưa chuẩn bị được tài liệu chứng cứ về nợ chung, nợ riêng của hai vợ chồng nên trong vụ án này anh không đề nghị giải quyết.
-
Về quan hệ hôn nhân:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị H, anh C về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng không yêu cầu giải quyết. Trường hợp chị H, anh C có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều: 19, 51, 56, 57, 58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H đối với anh Đặng Đình C. Chị Trần Thị Thu H được ly hôn anh Đặng Đình C.
- Về con chung: Chị Trần Thị Thu H và anh Đặng Đình C có 02 con chung là cháu Đặng Đình Gia B sinh ngày 03/4/2014 giới tính nam và cháu Đặng Đình Anh D sinh ngày 03/11/2017 giới tính nam. Hai con chung đều khoẻ mạnh phát triển bình thường. Giao anh Đặng Đình C là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu Đặng Đình Gia B và cháu Đặng Đình A D kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Chị Trần Thị Thu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thu H và anh Đặng Đình C tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.500.000 đồng/2 con/tháng, kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của Trần Thị Thu H và anh Đặng Đình C không yêu cầu giải quyết. Trường hợp chị H, anh C có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0044845 ngày 20/2/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Chị Trần Thị Thu H còn phải nộp 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, anh Đặng Đình C, chị Trần Thị Thu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Nguyễn Phúc Tuấn | |
| Nguyễn Văn Thông |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Mạnh Tuấn |
Bản án số 381/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 381/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA.381.Hằng - Cường.30.5.25
