| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| TẠI HÀ NỘI | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 381/2024/HC-PT Ngày: 08/7/2024 V/v: khiếu kiện quyết định hành chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
-Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Điền;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
-Thư ký phiên toà: Bà Hà Lê Giang, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Trần Thị Minh Ngọc - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 185/2024/TLPT-HC ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2024/HC-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6762/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Chị Tạ Thị Bảo H sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ C, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai, vắng mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai. Địa chỉ: Tổ dân phố C, khu hành chính huyện B, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trọng T – Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Lào Cai. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N1 – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Văn Minh N sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Văn bản ủy quyền ngày 14/8/2023). Có mặt.
- Anh Trần Quang H1. Địa chỉ: Tổ E, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai, vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền của anh H1: Ông Văn Minh N sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Văn bản ủy quyền ngày 14/8/2023). Có mặt.
- Bà Phạm Thị Bình s năm 1974. Địa chỉ: Tổ E, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Ngày 16/9/2022, UBND huyện B, tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 3420/QĐ-UBND thu hồi toàn bộ diện tích 126,1m² đất của hộ bà Phạm Thị B tại Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai và Quyết định số 3406/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, tái định cư đối với hộ bà Phạm Thị B. Theo các Quyết định trên thì hộ bà Phạm Thị B được giao 01 lô đất ở tái định cư theo điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Ngày 29/9/2022, UBND huyện B có Thông báo số 820/TB-UBND về việc giao đất tái định cư, đất ở có thu tiền ... bổ sung đối với anh Tạ Quang V (con trai bà Phạm Thị B) (BL210).
Ngày 09/3/2023, UBND huyện B đã ban hành Quyết định số 767/QĐ-UBND và Quyết định số 768/QĐ-UBND giao đất ở tái định cư cho bà Phạm Thị B và anh Tạ Quang V diện tích giao đất của mỗi người là 100,0m², vị trí 02 thửa đất tại khu đô thị H, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Chị Tạ Thị Bảo H là con gái bà Phạm Thị B khiếu nại vì cho rằng Nhà nước không xét duyệt giao đất tái định cư cho chị H là không đúng. UBND huyện B đã ban hành Công văn số 12/UBND-TNMT ngày 09/02/2023 và Công văn số 84/UBND-TNMT ngày 29/6/2023 trả lời không chấp nhận khiếu nại của chị H.
Tại đơn khởi kiện gửi Toà án ngày 15/9/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Tạ Thị Bảo H và người đại diện theo uỷ quyền của chị H là ông Văn Minh N đề nghị Tòa án:
- Huỷ văn bản số 12/UBND-TNMT ngày 09/02/2023 và văn bản số 84/UBND-TNMT ngày 29/6/2023 của UBND huyện B, tỉnh Lào Cai.
- Buộc UBND huyện B thực hiện công vụ, nhiệm vụ theo quy định pháp luật, cụ thể là ban hành Quyết định bổ sung về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư trong đó bổ sung danh sách giao đất tái định cư đối với hộ phát sinh cho gia đình chị H theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, với lý do:
Năm 2009, Thửa đất tại tổ dân phố C, thị trấn P, huyện B được cấp GCNQSDĐ diện tích 126.3m² đất ở mang tên hộ bà Phạm Thị B. Thời điểm giao đất hộ gia đình chị H có 03 nhân khẩu là bà B (Chủ hộ) và 02 người con là chị Tạ thị Bảo H2 và anh Tạ Quang V.
Ngày 19/9/2019, chị H2 kết hôn với anh Trần Quang H1 có địa chỉ thường trú tại tổ dân phố E, thị trấn P, huyện B. Tuy nhiên, sau khi kết hôn chị H2 cùng chồng bán hàng ăn tại quán cùng với mẹ đẻ anh H1 ở tổ dân phố F, thị trấn P, huyện B nhưng thực tế vẫn sinh sống cùng bà B tại tổ dân phố C.
Đến tháng 01/2020 chị H2 sinh cháu Trần Minh T1, nhập khẩu theo hộ gia đình bà B. Tháng 6/2022 chị H2 sinh cháu Trần Minh K, trong suốt thời gian trước và sau khi sinh chị H2 vẫn ở cùng nhà bà B tại tổ dân phố C, thị trấn P, huyện B. Chị H2 cùng các con đều sinh sống thường xuyên liên tục cùng với bà B tại căn nhà trên thửa đất bị thu hồi, thời điểm sinh sống từ khi dựng nhà năm 2010 đến khi bàn giao đất cho dự án.
Tài liệu thể hiện việc sinh sống thường xuyên:
2
- Tài liệu cách ly Covid19 tháng 11/2021 xác định chị Tạ Thị Bảo H có phòng riêng, đủ điều kiện thực hiện cách ly tại nhà tại Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện B.
- Ngày 10/02/2023, chị H làm đơn đề nghị xác nhận sinh sống thường xuyên tại nhà bà B, không sinh sống ở nơi nào khác cho đến khi thu hồi đất và phá dỡ nhà. Thời điểm thu hồi đất hộ gia đình có 05 khẩu, trong đó có mẹ con chị H. Các hộ liền kề đã có 12 hộ đại diện ký xác nhận nội dung trên là đúng.
- Kết quả xác minh của Hội đồng giải phóng mặt bằng huyện B: Xác nhận mẹ con chị H đều chung sống trong hộ gia đình bà Phạm Thị B - chủ hộ, nơi thường trú: tổ dân phố C, thị trấn P, huyện B; Gia đình đóng nộp các khoản thu, phí vệ sinh môi trường đủ 05 khẩu; Xác nhận nơi ở của con trai chị H trong đơn xin đi học là ở Tổ 3B là chỗ ở của gia đình bà B bị thu hồi.
- Biên bản làm việc của Công ty L với các hộ trong tổ dân phố và những hộ liền kề, gồm có bà Trịnh Thị M sinh năm 1954; bà Nguyễn Thị T2 sinh năm 1976; bà Phạm Thị H3 sinh năm 1969 đều xác nhận mẹ con chị H sinh sống thường xuyên cùng hộ bà B từ khi xây nhà năm 2007 đến nay.
Người bị kiện UBND huyện B trình bày:
Trong hồ sơ giải phóng mặt bằng của dự án chị Tạ Thị Bảo H không có đất bị thu hồi và không có tài sản là nhà ở; chị Tạ Thị Bảo H là con gái của bà Phạm Thị B.
Theo xác nhận thông tin cư trú ngày 22/4/2022 của Công an thị trấn P, tại thời điểm thu hồi đất, hộ gia đình bà Phạm Thị B, địa chỉ Tổ dân phố C gồm 06 khẩu, trong đó bà Phạm Thị B là chủ hộ, các thành viên gồm: con gái Tạ Thị Bảo H, con dâu Lê Thị H4, cháu nội Tạ Linh C, cháu ngoại Trần Minh T1, con trai Tạ Quang V.
Theo thông tin xác nhận của UBND thị trấn P tại biên bản làm việc ngày 19/8/2022 thì chị Tạ Thị Bảo H lấy chồng từ tháng 9/2019 và chuyển về ở phố P thị trấn P sinh sống, không thường xuyên sinh sống cùng nhà với mẹ đẻ là Phạm Thị B tại Tổ dân phố C thị trấn P.
Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Căn cứ hồ sơ giải phóng mặt bằng của hộ bà Phạm Thị B, đối chiếu với quy định trên thì chị Tạ Thị Bảo H (con gái bà Phạm Thị B) không đủ điều kiện để được giao đất theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị B, Anh Trần Quang H1 đều nhất trí với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2024/HC-ST ngày 26/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đã xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Bảo H về việc yêu cầu Tòa án:
- Hủy văn bản số 12/UBND- TNMT ngày 09/02/2023 và Văn bản số 84/UBND-TNMT ngày 29/6/2023 của UBND huyện B về việc trả lời đơn.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định bổ sung về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư trong đó bổ sung danh sách giao đất theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, phê duyệt giao đất tái định cư đối với hộ phát sinh cho gia đình chị Tạ Thị Bảo H.
3
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/4/2024, Ông Văn Minh N – là người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện chị Tạ Thị Bảo H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, ông Văn Minh N giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện và nội kháng cáo. Ông xác định người khởi kiện chỉ khiếu nại và khởi kiện huỷ 02 văn bản số 12/UBND-TNMT và 84/UBND-TNMT của UBND huyện B và đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận đơn khởi kiện của bà Tạ Thị Bảo H, buộc UBND huyện B bổ sung suất tái định cư đối với chị H vì chị H không còn chỗ ở nào khác, thực tế nhà chồng chị H tại Tổ F rất chật chội có 26m², hết giờ làm việc ở quán ăn là chị H về nhà bà B ngủ và chăm con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Tạ Thị Bảo H khởi kiện yêu cầu hủy văn bản số 12/UBND-TNMT ngày 09/02/2023, Văn bản số 84/UBND-TNMT ngày 29/6/2023 của UBND huyện B về việc trả lời đơn. Các văn bản này có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính nên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Ngoài ra chị H yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định bổ sung về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư đối với hộ phát sinh cho gia đình chị H, đây là hành vi hành chính cũng thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
[1.1] Yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Bảo H có nội dung yêu cầu giao bổ sung 01 suất tái định cư khi thu hồi Thửa đất số 56 tờ bản đồ số 24 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00403/QSDĐ do UBND huyện B cấp năm 2009 mang tên hộ bà Phạm Thị B (mẹ đẻ của chị H) tại Tổ C- thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Chị Tạ Thị Bảo H không khiếu nại, cũng không khởi kiện về việc thu hồi đất đối với hộ bà Phạm Thị B, chỉ khiếu nại về việc UBND huyện B khi thu hồi đã không giao đất tái định cư cho chị H, như vậy yêu cầu khởi kiện của chị H liên quan đến Quyết định số 3406/QĐ-UBND ngày 16/9/2022 về phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đối với hộ bà Phạm Thị B. Toà án cấp sơ thẩm xem xét cả Quyết định số 3420/QĐ-UBND về thu hồi đất là không đúng, cần rút kinh nghiệm để tránh sai sót tương tự.
[1.2] Ngày 26/3/2024, TAND tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt Người khởi kiện và Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện. Ngày 06/4/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai tống đạt Bản án hành chính sơ thẩm cho ông Văn Minh N- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện (BL 326). Ngày 15/4/2024 ông Văn Minh N có đơn kháng cáo đối với Bản án hành chính sơ thẩm là đúng thời hạn quy định tại Điều 204, Điều 206 Luật Tố
4
tụng hành chính. Ngày 22/4/2024, Người đại diện theo uỷ quyền của chị Tạ Thị Bảo H là ông Văn Minh N đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cao theo Biên lai số 0000061. Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng quy định.
[2] Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành Quyết định số 3406/QĐ-UBND ngày 16/9/2022 về phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đối với hộ bà Phạm Thị B:
Sau khi Hội đồng nhân dân tỉnh L ban hành Nghị quyết số 82/NQ-HĐND ngày 15/12/2016 về danh mục các công trình, dự án phải thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng năm 2017 của tỉnh Lào Cai, trong đó có dự án khu hành chính mới huyện B; UBND tỉnh L đã ban hành Quyết định số 2515/QĐ-UBND ngày 16/7/2021 về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất đến năm 2021 của huyện B, trong đó có kế hoạch thu hồi đất để thực hiện dự án khu hành chính mới huyện B (Đất xây dựng trụ sở cơ quan); Quyết định số 3324/QĐ-UBND ngày 15/9/2021 về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu của quy hoạch sử dụng đất huyện B, tỉnh Lào Cai, trong đó có kế hoạch thu hồi đất để thực hiện dự án khu hành chính mới huyện B (Đất xây dựng trụ sở cơ quan); và Quyết định số 923/QĐ-UBND ngày 05/5/2022 về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để bồi thường và giá đất cụ thể để giao đất tái định cư khu nhà nước thu hồi đất trên địa bàn các huyện, trong đó có huyện B. Hội đồng nhân dân huyện B ban hành Nghị quyết số 90/NQ-HĐNN ngày 04/10/2021phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng công trình san gạt mặt bằng bổ sung ngoại thất khu hành chính mới huyện B; UBND huyện B ban hành Quyết định số 770.QĐ-UBND ngày 29/3/2020 và Quyết định số 2723/QĐ-UBND ngày 28/7/2022 về việc phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng và phê duyệt điều chỉnh báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình san gạt mặt bằng bổ sung ngoại thất khu hành chính mới huyện B, Thông báo số 161/TB-UBND ngày 12/4/2022 về việc thu hồi đất của hộ bà Phạm Thị B. Trên cơ sở các văn bản trên, ngày 05/8/2022 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư tiến hành kê khai số lượng đất, tài sản, hoa màu của hộ bà Phạm Thị B; ngày 08/9/2022 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện B tổ chức buổi họp về việc công bố, kết thúc niêm yết công khai phương án dự thảo hỗ trợ bồi thường tái định cư để xây dựng dự án ngoại thất, giải phóng mặt bằng, san gạt mặt bằng hạ tầng kỹ thuật khu hành chính mới huyện B. Ngày 16/9/2022 Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 3420/QĐ-UBND về thu hồi đất và cùng ngày 16/9/2022 UBND huyện B Quyết định số 3406/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đối với hộ bà Phạm Thị B là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 66, Điều 69 Luật đất đai.
5
[3] Về nội dung Quyết định số 3406/QĐ-UBND ngày 16/9/2022 về phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đối với hộ bà Phạm Thị B:
Quyết định số 3406/QĐ-UBND ngày 16/9/2022 có nội dung: “Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng xây dựng dự án: Ngoại thất, GPMB, san gạt mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật khu vực xây dựng trụ sở hành chính mới huyện B. Tổng diện tích thu hồi: 2595,8 m² trong đó đất ở đô thị: 1959,6 m², đất trồng cây lâu năm: 636,2 m² . Tổng kinh phí phê duyệt là: 13.372.200.524đ”. trong đó liên quan
đến hộ bà Phạm Thị B: “Tái định cư theo điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP; giá trị bồi thường: Về đất 216.540.00 đồng; Giá trị về tài sản 1.015.855.571 đồng; Giá trị về hoa màu 2.451.550 đồng; Chính sách hỗ trợ 7.000.000 đồng; Tổng số tiền là: 1.241.847.121 đồng” (BL22). Ngày 29/9/2022, UBND huyện B có Thông báo số 820/TB-UBND bổ sung về việc giao đất tái định cư, đất ở có thu tiền .. đối với anh Tạ Quang V (con trai bà Phạm Thị B).
[3.1] Chị Tạ Thị Bảo H không khiếu nại, cũng không khởi kiện về việc bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất và các chính sách hỗ trợ khác đối với hộ bà Phạm Thị B. Chị H chỉ khiếu nại cho rằng UBND huyện B đã không bố trí suất tái định cư đối với chị là không đúng vì chị cũng là nhân khẩu trong hộ bà Phạm Thị B.
[3.2] Đối với việc hỗ trợ tái định cư: Điểm a Khoản 1 Điều 79 Luật đất đai quy định: “Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; ....”. Điểm c khoản 2 Điều 83 Luật đất đai quy định: “Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, mà phải di chuyển chỗ ở”; Điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau: “Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư”.
[3.3] Ngoài trường hợp được bố trí tái định cư nêu trên, khoản 2 Điều 79 Luật đất đai và khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định như sau: “Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định”.
[3.4] Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và Điều 4 Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 14/5/2021 của UBND tỉnh L quy định: “Trường hợp hộ gia đình quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CPtại thời điểm thu hồi đất trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi, nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi mà các hộ không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi, nếu có nhu cầu đất ở tái định cư thì Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao một suất đất ở tái định cư, diện tích đất ở tái định cư cho từng hộ gia đình theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quy hoạch khu tái định cư được phê duyệt; trường hợp bố trí tái định cư tại chỗ thì diện tích một suất đất ở tái định cư không lớn hơn hạn mức đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh Q1”.
6
[3.5] Căn cứ theo các quy định trên, tại Quyết định số 3406/QĐ-UBND và Thông báo số 820/TB-UBND, UBND huyện B giao cho hộ bà Phạm Thị B được bố trí 02 suất tái định cư, trong đó có 01 suất cho bà B là chủ hộ- là người sử dụng đất có nhà ở phải di chuyển chỗ ở, đủ điều kiện được bồi thường về đất ở; 01 suất cho anh Tạ Quang V là con trai của bà B đã xây dựng gia đình ngày 03/3/2022 cùng sinh sống trên cùng thửa đất ở bị thu hồi của bà B là đúng quy định.
[3.6] Đối với chị Tạ Thị Bảo H- là con gái bà Phạm Thị B: Theo các tài liệu mà người khởi kiện cung cấp hiện có trong hồ sơ vụ án gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009 cấp cho hộ bà B; Xác nhận nhân khẩu ngày 26/5/2022 (BL249a) của Ủy ban nhân dân thị trấn P; Đơn xin nhập học ngày 04/10/2021 cháu Trần Minh T1 (của con chị H (BL38)- bản phô tô; Giấy xác nhận thông tin về cư trú ngày 29/4/2022 của Công an thị trấn P- bản phô tô (BL39, 251); Danh sách nộp Quỹ tổ 3B năm 2022 (BL55)- bản phô tô; Giấy kết hôn của chị H với anh H1 (BL64); Quyết định số 144 ngày 05/3/2022 về cách ly covid chị H và Giấy xác nhận ngày 05/11/2021 đủ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cách ly y tế tại nhà đối với chị H, thể hiện: nơi thực hiện cách ly là nhà bà B (BL47, 49); Tin nhắn của Tổ dân phố 3B trên zalo thể hiện ngày 04/12/2022 về việc triệu tập họp Tổ dân phố để xem xét về trường hợp chị H (BL48); Giấy xác nhận chị H sinh sống thường xuyên tại nhà bà B ghi ngày 10/02/2023 của chị H có 12 người làm chứng (BL56); Lời khai của một số người làm chứng do ông Văn Minh N- người đại diện theo uỷ quyền của chị H, anh H1 thực hiện việc lấy ý kiến là bà Trịnh Thị M (BL58), Nguyễn Thị T2 (BL60), Phạm Thị H3 (BL62) thì có căn cứ xác định chị H có hộ khẩu thường trú tại nhà bà Phạm Thị B tại Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai là nơi có đất của hộ bà B bị thu hồi để thực hiện Dự án ngoại thất, giải phóng mặt bằng, san gạt mặt bằng hạ tầng kỹ thuật khu hành chính mới huyện B. Tuy nhiên, các tài liệu mà phía người khởi kiện cung cấp chưa đủ chứng cứ chứng minh chị H sau khi lấy chồng (năm 2019) vẫn sinh sống, cùng sử dụng thửa đất với bà B vì các lý do sau: 1) Một số tài liệu là bản phô tô nên không được coi là tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Điều 82 Luật Tố tụng hành chính; 2) Một số tài liệu là bản chính như lời khai của người làm chứng nhưng được thu thập bởi chính phía người khởi kiện nên chưa bảo đảm về tính khách quan; 3) Đối với Giấy xác nhận cách ly covid chỉ thể hiện nơi chị H thực hiện cách ly covid tại nhà bà B chứ chưa chứng minh được chị H vẫn sinh sống và cùng sử dụng chung thửa đất với bà H.
[3.7] Thực tế, chị H lấy chồng từ năm 2019 và chồng chị H là anh Trần Quang H1 có hộ khẩu tại Tổ 5A, không chuyển khẩu về nhà bà B. Chồng chị H là anh H1 và con thứ hai của anh H1 chị H vẫn có hộ khẩu thường trú tại Tổ E, chị H cùng gia đình chồng có thuê nhà vừa để ở vừa để bán hàng tại Tổ F thị trấn P, bản thân chị H cũng khai sau đó tháng 7/2022 thì mẹ chồng chị H đã mua lại căn nhà thuê tại Tổ F. Kết quả làm việc với các Tổ trưởng Tổ dân phố, Bí thư Chi bộ Tổ như sau: Ông Đỗ Xuân T3 – Tổ trưởng và ông Lê Đức K1- Bí thư Tổ dân phố 6B xác nhận “chị Tạ Thị Bảo H thường xuyên sinh sống tại nhà chồng tại phố P tổ F, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai”; Ông Nguyễn Xuân T4 – Tổ trưởng và bà Phạm Thị Q- Bí thư chi bộ Tổ 3B xác nhận “chị Tạ Thị Bảo H lấy chồng tại tổ E nhưng bán quản ăn tại tổ F. Chị H không thường xuyên sinh sống với mẹ đẻ là bà Phạm Thị B ở tổ
7
dân phố C. Chồng chị Hiền t khi lấy nhau không chuyển khẩu vào sổ hộ khẩu nhà bà B”. Ông Nguyễn Xuân T4 còn xác định: Từ năm 2018 đến nay, số nhân khẩu gia đình bà B khai báo để nộp các khoản tiền đóng góp cho tổ dân phố không đồng nhất. Đến năm 2022 thì gia đình mới khai báo và đóng góp là 06 khẩu”
[3.8] Như vậy, mặc dù chị Tạ Thị Bảo H có tên trong sổ hộ khẩu của hộ gia đình bà Phạm Thị B, nhưng thực tế từ khi lấy chồng chị H không cùng chung sống trên thửa đất thu hồi của bà B, chị H cùng chồng sinh sống tại Tổ F Thị trấn P, không thuộc trường hợp không còn nơi ở nào khác, phải di chuyển chỗ ở nên tại Quyết định số 3406/QĐ-UBND ngày 16/9/2022 và Thông báo số 820/TB-UBND, Ủy ban nhân dân huyện B chỉ giao 02 suất tái định cư cho bà Phạm Thị B (chủ hộ- là mẹ đẻ của chị H) và anh Tạ Quang V (anh trai chị H) là phù hợp, đã bảo đảm đầy đủ quyền lợi của hộ bà B, không giao suất tái định cư cho chị H là đúng quy định.
[4] Xét tính hợp pháp của văn bản số 12/UBND-TNMT ngày 09/02/2023; Văn bản số 84/UBND-TNMT ngày 29/6/2023 của UBND huyện B:
Theo quy định tại khoản 8 Điều 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 và Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn khiến nghị, phản ánh thì thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đơn của chị Tạ Thị Bảo H là của Chủ tịch UBND huyện B. Tại văn bản số 84/UBND-TNMT, Chủ tịch UBND huyện B ban hành dưới hình thức công văn và ký TM.UBND và Tại Văn bản số 12/UBND-TNMT Phó Chủ tịch huyện Ký thay Chủ tịch và ký dưới danh nghĩa TM.UBND (thay mặt Uỷ ban nhân dân) huyện B là không đúng. Tuy nhiên, như mục [3] nêu trên đã phân tích, tại thời điểm thu hồi đất của bà Phạm Thị B chị Tạ Thị Bảo H có tên trong sổ hộ khẩu của bà B nhưng thực tế không cùng sinh sống trên thửa đất thu hồi của bà Phạm Thị B. Vì vậy, nội dung trả lời tại Văn bản số 12/UBND-TNMT ngày 09/02/2023 và Văn bản số 84/UBND-TNMT ngày 29/6/2023 của UBND huyện B về việc không chấp nhận đề nghị của chị H về việc giao đất tái định cư cho chị H là đúng. Do đó, chỉ rút kinh nghiệm đối với Chủ tịch, Ủy ban nhân dân huyện B và không chấp nhận yêu cầu của chị H về việc hủy văn bản số 12/UBND-TNMT và Văn bản số 84/UBND-TNMT ngày 29/6/2023 của UBND huyện B.
[5] Từ những căn cứ trên,
Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Bảo H về việc buộc UBND huyện B ban hành quyết định bổ sung về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong đó bổ sung danh sách giao đất là đúng quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị Tạ Thị Bảo H, chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà phúc thẩm về việc giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
[6] Về án phí:
Do kháng cáo không được chấp nhận, chị Tạ Thị Bảo H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
8
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 66, Điều 69, Điều 79, Điều 83, Điều 86 của Luật đất đai năm 2013; Khoản 2 Điều 6 Nghị Định 47/2014/NĐ-CP của Chính Phủ; Điều 4 Quyết định số 26/2021/QĐ-UBND ngày 14/5/2021 của UBND tỉnh L; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bác yêu cầu kháng cáo của ông Văn Minh N- là người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện (chị Tạ Thị Bảo H); Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2024/HC-ST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Hủy Văn bản số 12/UBND- TNMT ngày 09/02/2023 và Văn bản số 84/UBND-TNMT ngày 29/6/2023 của UBND huyện B.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định bổ sung về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư trong đó bổ sung danh sách giao đất theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, phê duyệt giao đất tái định cư đối với hộ phát sinh cho gia đình chị Tạ Thị Bảo H.
- Về án phí: Chị Tạ Thị Bảo H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông Văn Minh N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0000061 ngày 22/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Chị Tạ Thị Bảo H đã nộp đủ tiền án phí.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Bảo H về việc yêu cầu Tòa án:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh |
9
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Xuân Điền Nguyễn Tiến Dũng |
Trần Thị Quỳnh |
10
Bản án số 381/2024/HC-PT ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 381/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Thị Bảo H - UBND huyên B về việc "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
