TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 381/2024/DS-PT
Ngày: 30-08-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Quyến |
| Các Thẩm phán: | Bà Phan Thị Hồng Dung |
| Bà Phan Thị Tuyết Mai |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 08 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 168/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 06 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2024/DSST ngày 17 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 279/2024/QĐPT-DS ngày 03 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Út V, sinh năm 1967; Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Người đại diện hợp pháp: Bà Lâm Thị Anh T, sinh năm 2000; Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (Văn bản ủy quyền ngày 30/6/2023). Có mặt
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V1 (Nguyễn Thị Thu V2) sinh năm 1972; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Đình H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ D, khu phố C, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Theo văn bản ủy quyên ngày 19/8/2023). Có mặt
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Mỹ S; Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
- - Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị V2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, đại diện nguyên đơn trình bày và yêu cầu:
Vào ngày 10/4/2021 âm lịch bà Nguyễn Thị V2 có mượn của bà Huỳnh Thị Út V số tiền 95.000.000 đồng. Sau đó, ngày 11/4/2021 âm lịch thì bà Nguyễn Thị V2 (Nguyễn Thị Thu V2) có viết giấy mượn tiền do bà Nguyễn Thị V2 viết và ký tên cho bà Huỳnh Thị Út V giữ. Bà Huỳnh Thị Út V đã nhiều lần yêu cầu trả số tiền đã mượn nhưng đến nay bà Nguyễn Thị V2 chưa trả.
Nay bà Huỳnh Thị Út V yêu cầu bà Nguyễn Thị V2 có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Thị Út V số tiền 95.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định từ ngày 10 tháng 4 năm 2021 âm lịch cho đến nay.
- Bà Nguyễn Thị V2 có văn bản trình bày ý kiến ngày 29/8/2023 gửi Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang với nội dung:
Bà và bà Huỳnh Thị Út V (có địa chỉ ở thị xã L, tỉnh Hậu Giang) quen biết nhau qua làm ăn. Biết bà Út V chuyên cho vay lãi nên ngày 22/02/2021 (AL) bà có vay không thời hạn của bà V 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng) với lãi suất 5% mỗi tháng, lãi trả đều hàng tháng. Do bà Út V nợ bà Võ Thị Mỹ S (cùng địa chỉ cư trú với bà) 15.000.000 đồng nên ba người thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ trả nợ 15.000.000 đồng cho bà nên bà chỉ còn nợ bà Út V 25.000.000 đồng. Cho đến ngày 25/04/2021 (AL) bà trả thêm tiền gốc tổng cộng được 15.000.000 đồng nữa nên bà chỉ còn nợ lại bà Út V 10.000.000 đồng tiền gốc và mỗi tháng bà trả lãi đều 500.000 đồng. Đến ngày 14/08/2023 bà đột ngột nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ do thẩm phán Châu Thanh Q ký với nội dung bà phải đến Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ làm việc lúc 8h ngày 16/08/2023 nên bà không biết là sự việc gì. Là người dân lao động bà rất lo sợ nên sốt sắng đến Tòa thì thẩm phán Quyền mời vô phòng làm việc giải thích bà bị bà Út V khởi kiện đòi số tiền nợ 95.000.000 đồng (chín mươi lăm triệu đồng). Thật bất ngờ vì bà không nợ bà số tiền lớn đến như vậy nên phản ứng thì người đại diện cho bà Út V (do bà Út V vắng mặt) xưng là luật sư Lâm Thị Anh T có đưa cho bà xem một bản photo giấy viết tay mượn tiền đề ngày 11/04/2021 với nội dung: "Tôi đứng tên dưới đây: Nguyễn Thị Thu V2 Sn 1972 ngụ tại ấp L thị xã L, HG có mượng chị Tư T1 số tiền là 95 triệu đồng, ngày mượng 10/4/2021 AL- ký tên Nguyễn Thị Thu V2". Do giấy nợ không có thật nên đã giải thích chỉ vay bà Út V 40.000.000 đồng, đã trả và cấn trừ chỉ còn mắc nợ 10.000.000 đồng đang trả lãi đều hàng tháng. Tuy nhiên phía Thẩm phán và người đại diện cho bà Út V vẫn yêu cầu bà trình bày để lập biên bản ghi nhận ý kiến rồi đọc cho bà nghe, bảo bà ký cho chụp lại biên bản, giấy mượn tiền viết tay (đều là bản photo), đồng thời Thẩm phán giao giấy triệu tập viết sẵn hẹn đến tòa giải quyết vào ngày 29/08/2023. Nhưng khi bà về nhà đọc lại bản chụp trong máy điện thoại thì phát hiện biên bản và giấy mượn tiền không ghi đúng tên lót và địa chỉ của bà mà là của người khác cũng tên là V nhưng không phải Nguyễn Thị V2 mà là Nguyễn Thị Thu V2 cư ngụ tại ấp L,
thị xã L, tỉnh Hậu Giang, còn bà từ trước đến nay cư ngụ tại ấp T, xã T, huyện T, Cần Thơ. Đặc biệt trong biên bản ghi nhận ý kiến của nguyên đơn và bị đơn có ba dòng gần cuối ghi không đúng sự trình bày của bà mà đã tự sửa chữa thêm bớt cụ thể như sau: Đối với "Giấy mượn tiền" do nguyên đơn cung cấp bà không thừa nhận có ký tên vào giấy mượn tiền những nội dung trong biên nhận thể hiện bà mượn 95.000.000 đồng là không đúng vì chữ viết nội dung giấy mượn tiền không phải của bà. Tuy nhiên Thẩm phán lập biên bản đã bỏ chữ "không", biến chữ "những" thành chữ "nhưng" nên nghĩa của câu trở thành: Đối với "Giấy mượn tiền" do nguyên đơn cung cấp bà thừa nhận có ký tên vào giấy mượn tiền nhưng nội dung trong biên nhận thể hiện bà mượn 95.000.000 đồng là không đúng vì chữ viết nội dung giấy mượn tiền không phải của bà. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn quan điểm của bà như sau:
- Sự việc bà vay tiền của bà Út V 40.000.000 đồng đã trả và chuyển giao nghĩa vụ chỉ còn nợ lại 10.000.000 đồng đang trả lãi đều hàng tháng chưa phát sinh quyền khởi kiện. Bởi vì hợp đồng vay không kỳ hạn người cho vay muốn lấy nợ gốc phải báo trước cho bên vay một thời gian bằng văn bản theo điều 469 Bộ luật dân sự.
- Giấy mượn tiền viết tay đề ngày 11/04/2021 do bà Út Vân m ra không đúng chủ thể hai bên, không đúng địa chỉ người vay bà không thừa nhận. Nội dung giấy này chỉ ghi nợ 95.000.000 đồng không có lãi suất, không có thời hạn trả nợ nên không xác định được quyền và lợi ích của nguyên đơn xâm hại nên chưa phát sinh quyền khởi kiện khi chưa thỏa mãn quy định tại điều 469 Bộ luật dân sự.
- Biên bản ghi nhận ý kiến của nguyên đơn, bị đơn ngày 16/08/2023 do thẩm phán Châu Thanh Q lập không có giá trị pháp lý do vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng. Bởi vì biên bản này lập trước khi gởi thông báo thụ lý cho bị đơn, trước khi bị đơn trình bày ý kiến theo nội dụng thông báo và gởi bản tự khai, đơn phản tố (nếu có), lập không đúng mẫu theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Về thầm quyền giải quyết vụ án: Theo điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS quy định thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ là Tòa án nơi Bị đơn cu trú và làm việc. Nhưng không hiểu sao bà sống và làm việc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cần Thơ (được xác định qua thông tin dữ liệu căn cước công dân) nhưng vụ án vẫn được thụ lý giải quyết tại Tòa án thị xã L, tỉnh Hậu Giang là nơi cư trú của nguyên đơn.
Bà Nguyễn Thị V2 đề nghị:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi nợ số tiền 95.000.000₫ do không đủ cơ sở chứng minh.
- - Căn cứ vào điểm g khoản 1 điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ việc giải quyết vụ án trả lại đơn khởi kiện do chưa đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự (do sự việc khởi kiện chưa thỏa mãn điều điều 469 Bộ luật dân sự) hoặc không đúng thẩm quyền quy định tại điểm d khoản 1 điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại bản án dân sự sơ thẩm 41/2024/DSST ngày 17 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.
Buộc bà Nguyễn Thị V2 (Nguyễn Thị Thu V2) có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Thị Út V số tiền vốn gốc 95.000.000 (Chín mươi lăm triệu) đồng và tiền lãi chậm trả là 5.700.000 đồng. Tổng cộng bà bà Nguyễn Thị V2 (Nguyễn Thị Thu V2) có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Thị Út V là 100.700.000 (Một trăm triệu bảy trăm nghìn) đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/5/2024 bị đơn kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do bản án sơ thẩm có nhiều vi phạm pháp luật, áp dụng pháp luật và đánh giá chứng cứ không chính xác, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- - Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do chưa đủ điều kiện khởi kiện.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời gian luật định nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung: cấp sơ thẩm chưa làm rõ địa chỉ của bị đơn, chữa xác minh làm rõ bà Nguyễn Thị Thu V2 và bà Nguyễn Thị V2 có phải là một người hay không? Chưa làm rõ Bà Huỳnh Thị Út V có đúng là bà Tư T2 trong giấy mượn tiền hay không?.. là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Võ Thị Mỹ S đã được triệu tập nhưng vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn, nhận thấy:
[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ với các chứng cứ là “giấy mượng tiền” đề ngày 11 tháng 4 năm 2021, nội dung bà Nguyễn Thị Thu V2, sn 1972 ngụ tại Ấp L, xã L, thị xã L, tình H, có mượn của chị Tư T1 số tiền 95 triệu đồng ngày mượng 10/4/2021AL, bà Nguyễn Thị Thu V2 ký tên vào giấy mượn tiền này. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của nguyên đơn và bị đơn ngày 16/8/2023, bà Nguyễn Thị V2 thừa nhận ký tên vào giấy mượn tiền. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị V2 không yêu cầu giám định chữ ký và cho rằng nếu giám định đúng chữ ký của bà V2, bà cũng không đồng ý trả nợ vì bà không có vay 95.000.000₫.
Cũng tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 16/8/2023, bà Nguyễn Thị V2 xác định có là có vay của bà Út V (Tư Thể) 40.000.000 đồng như đã nêu trên. Tại Bản trình bày ý kiến ngày 29/8/2023 của bà Nguyễn Thị V2 cũng thừa nhận có quen biết với bà Huỳnh Thị Út V ( có địa chỉ Ấp L, xã L, thị xã L, tình H) nên có cơ sở xác định chị Tư T1 ghi trong giấy mượn tiền với bà Huỳnh Thị Út V là một người.
[2.2] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị V2 thừa nhận ông Võ Văn H1 là chồng, phù hợp với biên bản tống đạt ngày 09/8/2023 của TAND thị xã Long Mỹ, tống đạt cho ông H1 (Ấp L, xã L, thị xã L, tình H), như vậy bà Nguyễn Thị V2 có địa chỉ tại Ấp L, xã L, thị xã L, tình H, phù hợp với Giấy mượn tiền, khi được Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ triệu tập đến tham gia giải quyết vụ án ngày 16/8/2023 bà có mặt.
Tại Bản trình bày ý kiến ngày 29/8/2023 của bà Nguyễn Thị V2 cũng thừa nhận có quen biết với bà Huỳnh Thị Út V ( có địa chỉ Ấp L, xã L, thị xã L, tình H).
Từ những căn cứ nêu trên, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị V2 và bà Nguyễn Thị Thu V2 ghi trong giấy mượn tiền là một người.
[2.2] Xét thấy, bà Nguyễn Thị V2 cho rằng có thỏa thuận cấn trừ nợ với bà Võ Thị Mỹ S, có trả nợ cho bà Huỳnh Thị Út V nhưng bà không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh trong khi bà Út V không thừa nhận. Cấp sơ thẩm xác định, bà Nguyễn Thị V2 có vay của bà Út V số tiền 95.000.000đ vào ngày 10/4/2021AL theo như “giấy mượng tiền” đề ngày 11 tháng 4 năm 2021, buộc bà Nguyễn Thị V2 trả cho bà Út V số vốn 95.000.000₫ gốc và tiền lãi 5.700.000đ, lãi tính từ ngày 16/8/2023 (ngày ghi nhận ý kiến bà Huỳnh Thị Út V và bà Nguyễn Thị V2) đến ngày xét xử sơ thẩm, là có căn cứ, phù hợp pháp luật. Bà Nguyễn Thị V2 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị V2.
[3] Đối với việc bị đơn cung cấp bản sao 02 bản án sơ thẩm có nội dung phần tạm ứng án phí khác nhau, vấn đề này cấp sơ thẩm có sai sót nhưng không ảnh hưởng
nội dung việc giải quyết việc giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm, cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.
[4] Về án phí: Bị đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị V2;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2024/DSST ngày 17 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Nguyễn Thị V2 có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Thị Út V tổng số tiền là 100.700.000₫ (một trăm triệu, bảy trăm ngàn đồng), trong đó: nợ gốc 95.000.000₫ và tiền lãi 5.700.000₫.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị V2 chịu nộp 5.035.000 đ (Năm triệu, không trăm ba mươi lăm ngàn đồng).
Bà Huỳnh Thị Út V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 00054787 ngày 21 tháng 7 năm 2023 và số tiền tạm ứng án phí 2.075.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004813 ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào 300.000₫ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007687 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai; bị đơn đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7 và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quyến |
Bản án số 381/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 381/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
